Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về ung thư 1. Định nghĩa Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vỗ tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [4]. Phân loại Ung thư là từ chung mô tả trên 200 loại khác nhau được biết đến trên cơ thể người chia làm 5 nhóm theo tên của tế bào mà chúng bắt đầu [3]: Ung thư biểu mô Ung thư mô liên kết Ung thư hệ bạch huyết và đa u tủy Ung thư tế bào máu Ung thư não và tủy sống Đa số ung thư là bệnh có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triển qua từng giai đoạn.
Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biến gen từ lúc bào thai còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dưới dạng khối u, lúc này khối u phát triển nhanh và mới có các triệu chứng của bệnh. Triệu chứng đau thường xuất hiện khi bệnh đã ở giai đoạn cuối [29]. Phân loại TNM: Bảng 1. Phân loại TNM T0 Chưa có dấu hiệu u nguyên phát.
Tis Ung thư nội mạch: u chưa phá vỡ màng đáy. T: U nguyên phát Theo kích thước tăng dần hoặc mức xâm lấn tại T1-4 chỗ của u nguyên phát. Tx Chưa thể đánh giá được u nguyên phát. N0 Chưa có dấu hiệu xâm lấn hạch tại vùng.
N: Hạch tại vùng N1-3 Mức độ tăng dần xâm lấn hạch tại vùng. Nx Chưa thể đánh giá được hạch tại vùng. M0 Chưa di căn xa. M: Di căn xa M1 Di căn xa.
Mx Chưa đánh giá được di căn. Phân loại theo giai đoạn Theo sự tiến triển của ung thư: tại chỗ, tại vùng, toàn thân. Trong các phương pháp phân loại giai đoạn thì phân loại theo TNM của Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC) chính xác hơn và nhiều thông tin hơn, do vậy được áp dụng nhiều nhất. Theo Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC) [21] có sự kết hợp kết quả T, N, M và các yếu tố khác cụ thể đối với bệnh ung thư để xác định giai đoạn ung thư cho mỗi người.
Hầu hết các loại ung thư có bốn giai đoạn: giai đoạn I (1) đến IV (4). Một số bệnh ung thư cũng có giai đoạn 0 (không). - Giai đoạn 0: Các tế bào bất thường có mặt nhưng không lây lan sang các mô lân cận. Giai đoạn này của ung thư thường được chữa trị cao, hầu hết được loại bỏ toàn bộ khối u bằng cách phẫu thuật.
- Giai đoạn I: Giai đoạn này thường là một khối u nhỏ hoặc khối u không phát triển sâu vào các mô lân cận, nó cũng không lan rộng tới các hạch bạch huyết hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Nó thường được gọi là ung thư giai đoạn sớm. - Giai đoạn II và III: Các giai đoạn này cho thấy ung thư hoặc khối u lớn hơn đã phát triển sâu hơn vào các mô gần đó, chúng cũng có thể lan tới các hạch bạch huyết nhưng không lan sang các phần khác của cơ thể. - Giai đoạn IV: Giai đoạn này có nghĩa là ung thư đã lan ra các cơ quan khác hoặc các bộ phận khác của cơ thể.
Nó cũng thường được gọi là ung thư di căn. Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay Có 3 phương pháp chính điều trị bệnh ung thư là điều trị tại chỗ (phẫu thuật), tại vùng (xạ trị) và điều trị toàn thân (hóa chất, nội tiết, miễn dịch – sinh học). Việc sử dụng một hay nhiều phương pháp tùy thuộc vào loại bệnh và giai đoạn của bệnh ung thư. Điều trị phẫu thuật Có loại hai loại chỉ định chính là điều trị phẫu thuật triệt can và tạm thời.
Việc áp dụng chỉ định nào hoàn toàn phụ thuộc vào giai đoạn bệnh. Tuy nhiên, nhiều ung thư khi phát hiện ra bệnh đã ở giai đoạn muộn (giai đoạn II và IV) do đó hạn chế nhiều đến kết quả điều trị [3]. 6 Phẫu thuật điều trị triệt căn trong ung thư có thể là phẫu thuật đơn độc với những trường hợp bệnh ở giai đoạn sớm tổn thương khu trú chưa di căn xa hoặc nằm trong kế hoạch điều trị phối hợp nhiều phương pháp. Chiến lược, chiến thuật phối hợp như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào từng giai đoạn bệnh một cách cụ thể chính xác trên môi trường hợp.
Phẫu thuật là phương pháp chính để điều trị triệt căn cho nhiều bệnh ung thư như ung thư dạ dày, đại trực tràng, vú, cổ tử cung. *Phẫu thuật điều trị tạm thời chỉ định cho những trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn tổn thương đã lan rộng. Căn cứ vào biến chứng do ung thư gây ra mà bộ mà phẫu thuật tạm thời cũng có các mục đích khác nhau: + Phẫu thuật lấy bỏ u tối đa khi khối u lớn dính việc cắt bỏ khối u triệt để khó thực hiện có thể thực hiện việc cắt bỏ u tối đa. Việc làm này sẽ sẽ làm giảm đáng kể khối lượng tổ chức ung thư tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng các phương pháp điều trị bổ sung khác như xạ trị, hóa trị.
+ Phẫu thuật phục hồi sự lưu thông: làm hậu môn nhân tạo, nối vị tràng, nối tắt hồi tràng - đại tràng, mở thông dạ dày, mở khí quản. Phẫu thuật cầm máu thắt động mạch chậu trong ung thư cổ tử cung, thắt mạch cảnh trong thư vòm. + Phẫu thuật sạch sẽ chỉ định trong nhiều trường hợp như ung thư vú giai đoạn muộn, có vỡ loét. + Phẫu thuật giảm đau: Phẫu thuật cắt cụt chi, tháo khớp trong ung thư xương, cắt thần kinh chi phối vùng tổn thương… *Phẫu thuật với ung thư tái phát và di căn: + Tái phát ung thư là một đặc tính của bệnh ung thư.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp ung thư tái phát sau điều trị như ung thư đại tràng, ung thư giáp trạng. việc phẫu thuật lại vẫn có thể cho kết quả tốt. Chỉ định mổ lại tùy thuộc vào từng loại bệnh, cũng như khả năng lấy bỏ hết những tổn thương tái phát đó. + Di căn ung thư là giai đoạn cuối cùng của bệnh, nhưng nhiều trường hợp vẫn có thể điều trị phẫu thuật cho kết quả như ung thư đại tràng có di căn gan một ổ, nếu phẫu 7 thuật đại tràng và cắt nhân di cân vẫn cho kết quả khả quan.
Một số trường hợp di căn khác, chỉ định phẫu thuật dựa trên những tiêu chí sau: Thời gian xuất hiện di căn muộn (tính theo năm) U di căn khu trú, đơn độc ở một cơ quan Sức khỏe người bệnh có cho phép không, tai biến do phẫu thuật là tối thiểu. *Phẫu thuật trong điều trị phối hợp (đa mô thức): Phối hợp trước mổ: Sử dụng xạ trị đơn thuần hoặc kết hợp xạ trị và hóa trị trước mổ đối với một số loại ung thư như ung thư vú ở giai đoạn xâm lấn rộng tại chỗ, tại vùng, ung thư vùng đầu cổ, ung thư trực tràng xâm lấn chảy máu. Sau khi tia xạ khối u nhỏ lại, đỡ chảy máu tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật triệt căn. Phối hợp sau mổ: Điều trị xạ trị sau mổ sẽ làm giảm nguy cơ tái phát tại chỗ đối với một số loại ung thư: ung thư vú, sarcome phần mềm, ung thư đầu cổ và ung thư trực tràng.
Phối hợp phẫu thuật và xạ trị sau mổ còn cho phép để điều trị bảo tồn ung thư vú khi khối u còn nhỏ (cắt rộng khối u + vét hạch nách + xạ trị vào vú và hệ thống hạch vú trong, hạch thượng đòn. *Phẫu thuật tạo hình Hầu hết các phẫu thuật cắt bỏ trong ngoại khoa đều nhắm vào mục đích bảo tồn chức năng các cơ quan của cơ thể khi có thể được. Tuy nhiên trong phẫu thuật ung thư, để đảm bảo mép cắt an toàn phải cắt bỏ rộng rãi khối u, như vậy phẫu thuật tái tạo lại trở nên là một phương diện rất quan trọng trong phục hồi điều trị cho người bệnh. Đôi khi phẫu thuật tạo hình được thực hiện cùng một lúc với phẫu thuật cắt bỏ như: tái lập lưu thông tiêu hoá (ruột, thực quản); tạo hình bàng quang bằng các quai ruột trong cắt bàng quang toàn bộ; tạo hình vú sau phẫu thuật cắt vú.
Một số phẫu thuật tạo hình nhằm mục đích sửa chữa lại các di chứng do điều trị: tạo hình lại xương hàm sau khi xương hàm bị hoại tử do xạ trị; tạo hình phức tạp sau các phẫu thuật rộng rãi vùng đầu cổ. Điều trị tia xạ Điều trị tia xạ là sử dụng tia bức xạ ion hóa để điều trị ung thư, là phương pháp điều trị thứ 2 sau phẫu thuật đã được áp dụng hơn 100 năm nay. Có 2 loại điều trị tia xạ [11]: Tia xạ ngoài: Nguồn phóng xạ nằm ngoài cơ thể gồm các máy điều trị tia xạ như cobalt, gia tốc… Người ta phải thực hiện mô phỏng người bệnh trước khi xạ trị. Sử dụng một máy X quang đặc biệt có tất cả tính năng của một máy xạ trị, trừ nguồn phóng xạ được thay bằng đầu đèn phát tia X giúp xác định khu vực sẽ được chiếu xạ (trường chiếu) trên người người bệnh, giúp cho việc điều trị được chính xác hơn.
Trong thời đại ngày nay điều trị tia xạ đã có những tiến bộ vượt bậc đặc biệt,các quang tử và âm điện tử năng lượng cao ngày được sử dụng nhiều hơn, kỹ thuật tính liều và điều trị ngày càng tinh vi hơn. Với sự phát triển các kiến thức sâu về vật lý phóng xạ, sinh học phóng xạ cùng với việc phát triển hệ thống vi tính trong lập kế hoạch điều trị đã làm cho điều trị tia xạ chính xác hơn, hiệu quả điều trị được tăng lên đáng kể góp phần chửa khỏi hơn 50% số ca ung thư mới được chẩn đoán. Đây là phương pháp áp dụng rộng rãi nhất. Tia xạ áp sát: Nguồn phóng xạ được đặt trong cơ thể người bệnh.
Các đồng vị phóng xạ được sử dụng là các nguồn mềm có thể uốn nắn được như Cesium 137, Iridium 192 hoặc Radium 226. Điều trị toàn thân *Điều trị hóa chất [5] Điều trị hóa chất là một trong các biện pháp điều trị ung thư mang tính chất toàn thân. Bên cạnh các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng như phẫu thuật và xạ trị, các biện pháp điều trị toàn thân ngày càng có những đóng góp quan trọng trong điều trị và chăm sóc người bệnh ung thư.