MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, tỷ lệ trẻ rối nhiễu tâm trí có xu hướng ngày càng gia tăng. Điều này được thể hiện rõ qua các số liệu điều tra dịch tễ học trên thế giới. Cụ thể là, chỉ tính riêng ở trẻ em, các báo cáo chính thức của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đều cho thấy tỷ lệ tăng từ 15% đến 22% ở các nước phát triển và từ 13% đến 20% ở các nước đang phát triển (WHO, 2005).
Tại Việt Nam, tác giả Trần Tuấn và cộng sự đã tiến hành sử dụng bộ công cụ sàng lọc dịch tễ học SDQ25 của WHO dành cho trẻ em trên 1000 trẻ 8 tuổi và phát hiện tỷ lệ nghi ngờ bị rối nhiễu tâm trí khoảng 14% - 20% [18, tr. Theo số liệu được đưa ra tại hội thảo “Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe tinh thần trẻ em Việt Nam” diễn ra tại Hà Nội ngày 13/12/2007, điều tra của Bệnh viện Nhi Trung ương và một số nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, tỷ lệ có rối nhiễu tâm lý trong trẻ em ở tuổi học đường ở các vùng miền nước ta dao động trong khoảng 15 - 30%. Trong các nghiên cứu đã triển khai, phần lớn những rối nhiễu tâm lý ở trẻ đã được xếp loại theo các tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế. Tuy nhiên, nhiều rối nhiễu không có đủ các triệu chứng lâm sàng để được phân loại nhưng rất ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý của trẻ, trong số đó có những rối loạn với các dấu hiệu liên quan đến tiền sử bị chia tách với mẹ sớm, có vấn đề trong quan hệ gắn bó mẹ con sớm.
Trên thực tế, các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã chỉ ra sự quan trọng của gắn bó trong những năm đầu đời của trẻ; đồng thời cho thấy sự thiếu gắn bó, gắn bó đứt gãy hoặc sự chia tách, chia ly có tác động lớn và lâu dài đến sự phát triển tâm lý của trẻ. Các thực nghiệm tâm lý từ lâu tại các 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước phương Tây đã chỉ ra rằng: nếu trẻ bị cách ly, thiếu gắn bó, chia tách với người chăm sóc sẽ dẫn tới những rối loạn trong ứng xử của trẻ, quá trình xã hội hoá cá nhân bị ảnh hưởng gây khó khăn trong hoà nhập xã hội. Bowbly đã có thể khẳng định có rất nhiều lý do để tin rằng sự cách ly kéo dài một đứa bé với mẹ nó hoặc mối quan hệ mẹ con có vấn đề trong 5 năm đầu tiên là nhân tố chính gây nên phạm pháp sau này. Goldfarb tóm tắt nhân cách của những trẻ em này là: “Cư xử hung bạo, thích các trò giải trí, thiếu kiềm chế không thấy ở chúng những dạng bình thường về lo lắng và ức chế.
Những sự đồng nhất hóa bị hạn chế và những liên hệ tình cảm hời hợt và không bền chặt. Hậu quả về mặt thể chất của việc thiếu vắng mẹ đã được các nhà tâm lý, các chuyên gia trong lĩnh vực chăm chữa sức khoẻ bà mẹ và trẻ em cảnh báo. Có thể tóm tắt sự cần thiết khẩn cấp về sự gắn bó mẹ con, sự có mặt của mẹ bên con qua những câu sau đây của Bowlby vừa giản dị vừa thuyết phục: “Ấu nhi và nhi đồng cần được nuôi dưỡng trong bầu không khí ấm cúng và được gắn bó với mẹ bằng mối liên hệ tình cảm thân thiết liên tục, nguồn thỏa mãn và vui thú cho cả mẹ lẫn con. Đứa trẻ cần được cảm thấy mình là đối tượng thích thú và tự hào của mẹ và người mẹ có nhu cầu cảm thấy mình được phong phú thêm về nhân cách thông qua nhân cách của con; hai nhân cách đó đều có nhu cầu được đồng nhất hóa một cách mật thiết với nhau…ở đó có những quan hệ sinh động giữa con người làm biến đổi tính cách cả mẹ và con.87] Mối quan hệ đầu tiên, thân mật nhất của trẻ bị đứt gãy, thay vào cảm giác an toàn cần thiết cho sự phát triển của một đứa trẻ là sự hụt hẫng mất mát.
Cuộc sống của trẻ nhỏ hoàn toàn phụ thuộc vào người lớn, do vậy trẻ có cảm giác an toàn hay không phụ thuộc vào việc trẻ có được sự gắn bó với người chăm sóc thân thuộc đó hay không. Trẻ bị chia tách hay sự gắn bó bị 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đứt gãy thường do bố mẹ, người chăm sóc không ý thức được tầm quan trọng của sự gắn bó, chất lượng gắn bó, mức độ gắn bó cho đến khi cảm thấy sự bất thường ở con. Tại Việt Nam trên các phương tiện truyền thông, các chuyên gia, bác sĩ nhi khoa đã lên tiếng báo động về sự nghiêm trọng của thiếu hụt tình yêu thương, thiếu hụt quan tâm chăm sóc của bố mẹ đến trẻ nhỏ, gây nên những “nguy cơ về tâm thần”, các căn bệnh như “trầm cảm vắng mẹ”, “thiếu sự gắn bó”… [dẫn theo 1,8,18]. Thực tế cho thấy, nhiều cha mẹ và gia đình đã chủ quan cho rằng trẻ nhỏ chưa nhận thức được điều gì nên sao nhãng trong việc chăm sóc, gần gũi trẻ, giao việc chăm sóc, biểu đạt tình yêu thương lại cho ông bà hay cho người giúp việc trong gia đình.
Hoặc một số bà mẹ lại gắn bó, bao bọc con quá mức mà không cho con cơ hội được trải nghiệm với không gian và thời gian bên ngoài. Những quan điểm sai lầm đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển cảm xúc, cảm giác an toàn cũng như sự khoẻ mạnh về cả thể chất lẫn tâm lý của trẻ. Việc nghiên cứu những trẻ có vấn đề về gắn bó mẹ con sớm là hết sức cần thiết, giúp các nhà chuyên môn, các bậc cha mẹ, những người trực tiếp chăm sóc trẻ có một cách nhìn rõ ràng hơn, đầy đủ hơn về những khó khăn mà trẻ gặp phải, về các cách thức làm giảm thiểu những khó khăn ấy và về phương thức nâng cao chất lượng mối quan hệ gắn bó mẹ con sớm trong quá trình phát triển của trẻ trong những năm tháng đầu đời. Với những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Sự gắn bó mẹ con sớm và ảnh hưởng của nó đến quá trình phát triển tâm lý của trẻ 2-3 tuổi”.
Mục đích nghiên cứu Phát hiện những biểu hiện của sự gắn bó mẹ con sớm; nghiên cứu ảnh hưởng của sự gắn bó mẹ con sớm đến quá trình phát triển tâm lý của trẻ 2-3 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị, các giải pháp phù hợp cho các bậc phụ huynh, những người chăm sóc trẻ cũng như những người làm công tác trợ giúp tâm lý trong việc chăm sóc, can thiệp và làm giảm thiểu những khó khăn tâm lý mà trẻ 2-3 tuổi có thể gặp phải trong gắn bó mẹ con sớm. Đối tƣợng nghiên cứu Những biểu hiện của sự gắn bó mẹ con sớm và ảnh hưởng của gắn bó mẹ con sớm đến quá trình phát triển tâm lý trẻ 2-3 tuổi. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận Xây dựng cơ sở lý luận về sự gắn bó mẹ con sớm ảnh hưởng đến quá trình phát triển tâm lý ở trẻ; Hệ thống hoá và làm rõ những khái niệm căn bản của đề tài.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn Phân tích hai ca lâm sàng điển hình, nhằm: - Mô tả những biểu hiện lâm sàng quan sát thấy ở trẻ có khó khăn do sự gắn bó mẹ con sớm.
- Phân tích các ảnh hưởng của sự gắn bó mẹ con sớm đến quá trình phát triển tâm lý của 2 trẻ được nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp phù hợp trong chăm sóc, can thiệp và làm giảm thiểu khó khăn tâm lý của trẻ trong các trường hợp này. Khách thể nghiên cứu Hai trường hợp trẻ em có vấn đề liên quan đến sự gắn bó mẹ con sớm 6. Phạm vi nghiên cứu Trong điều kiện và thời gian hạn hẹp, chúng tôi giới hạn nghiên cứu của mình trong phạm vi sau: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về địa bàn nghiên cứu: Địa bàn Hà Nội - Về nội dung: Nghiên cứu các biểu hiện của sự gắn bó mẹ con sớm, chỉ ra các quá trình tâm lý và các cơ chế phòng vệ của trẻ có vấn đề liên quan đến gắn bó mẹ con sớm, xem xét các ảnh hưởng của gắn bó mẹ con sớm đến sự phát triển tâm lý của trẻ 2-3 tuổi.
Giả thuyết nghiên cứu Các kiểu gắn bó kháng cự (bất an-chống đối) hay an toàn đến mức bám dính phụ thuộc vào nhau sẽ để lại những ảnh hưởng nhất định đến quá trình phát triển của trẻ, đặc biệt làm chậm sự phát triển ngôn ngữ và gây ra những rối loạn tâm vận động ở trẻ nhỏ. Đối với những trẻ này, có thể tìm thấy sự cắm chốt, thoái lui, hạn chế khả năng giao tiếp với xã hội. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích tài liệu - Phương pháp quan sát lâm sàng - Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng - Phương pháp phân tích sản phẩm - Nghiên cứu trường hợp - Phân tích lịch sử cuộc đời 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Những nghiên cứu về gắn bó mẹ con sớm trên thế giới Khi xem xét các nghiên cứu về sự chia tách mẹ con, chúng ta thấy vấn đề được phát triển, mở rộng với tư cách như một mặt đối lập, một hệ quả của chất lượng mối quan hệ gắn bó mẹ con. Như vậy, sự gắn bó mẹ-con có thể được xem như là tiền đề nghiên cứu quan trọng trước khi đánh giá các vấn đề về chia ly, chia tách ở một đứa trẻ. Có thể nói, mối quan hệ gắn bó mẹ con có một tầm quan trọng không thể bàn cãi; bởi vậy, các nhà tâm lý học trên thế giới đã quan tâm chú ý nghiên cứu đề tài này từ lâu. Freud (1933) cho rằng cảm xúc gắn bó của trẻ đối với mẹ sẽ là tiền đề cho tất cả mọi mối quan hệ của trẻ về sau.
Những nghiên cứu theo tiếp cận phân tâm học sau này đã củng cố thêm lý thuyết của Freud. Các chuyên đề tiêu biểu về quan hệ đối tượng (Anna Freud, 1936; Winnicott, 1971), về gắn bó (John Bowlby, 1991; Réné Spitz, 1946; Margaret Mahler, 1960), về người mẹ đủ tốt (Winnicott, 1975) đã lý giải rất nhiều vấn đề trong mối quan hệ gắn bó mẹ con và trong tiến trình phát triển của trẻ.