DUY THỨC HỌC Tuệ Quang Huyền-Cơ Phật-Học-Viện Nguồn http://www.com Chuyển sang ebook 14-6-2009 Người thực hiện : Nam Thiên – namthien@gmail.com Link Audio Tại Website http://www.org Mục Lục LỜI NÓI ĐẦU Phần Thứ Nhất - TỔNG-QUÁT VỀ DUY-THỨC-HỌC Phần Thứ Hai - LƢỢC-SỬ VỀ DUY-THỨC-HỌC Phần Thứ Ba - THÀNH-LẬP DUY-THỨC Phần Thứ Tƣ - TÁM THỨC Phần Thứ Năm - VÀO ĐỀ Phần Thứ Sáu - NÓI CHUNG Phần Thứ Bày - CHẤP NGÃ VÀ PHÁP Phần Thứ Tám - NĂNG-BIẾN THỨC Phần Thứ Chín - THỨC THỨ TÁM Phần Thứ Mƣời - THỨC THỨ BẢY Phần Thứ Mƣời Một - SÁU THỨC TRƢỚC Phần Thứ Mƣời Hai - LÝ-DUY-THỨC Phần Thứ Mƣời Ba - TU-HỌC Phần Thứ Mƣời Bốn - TỔNG-KẾT-LUẬN ---o0o--- LỜI NÓI ĐẦU Duy-Thức-Học là một nghành học rất sâu-sắc, uẩn-súc, và rất danh-tiếng trong đạo Phật. Đó là tâm-lý-học của Phật-Pháp, giúp chúng-sinh, để dể bề tu-tiến. Duy-thức thuộc về Pháp-Tƣớng, tức là phân-tích, lý-luận, chia phần, đoạn, phân-minh nhƣ khoa-học ngày nay. Đây là quyển sách đầu-đủ về Duy-Thức.
Phần lớn là bản dịch bộ « Thành-Duy-Thức Luận » của Tam-Tạng Pháp-Sƣ Huyền-Trang, đời Đƣờng, bên Trung-Hoa. Bộ này đƣợc coi là bộ sách đầy-đủ nhất về Duy-Thức từ xƣa đến nay. Dịch-giả, cụ Trí-Độ, là một hoc giả uyên-bác, lỗi lạc về Phật-Pháp, một tâm-hồn bồ-tát rộng-rãi, vị-tha. Cụ là Tôn-Sƣ của các Thƣợng-Tọa Thích- Trí-Tịnh, Thích-Thiện-Siêu, Thích-Thiện-Hoa, Thích-Trí-Quang, Thích- Thiện-Hòa, Thích-Thiện-Minh và Thích-Huyền-Quang.
Năm 1948, Cụ mang hết kinh-nghiệm một đời tu học, truyền-dạy cho tôi về Phật-Pháp, về Nhân-Minh, và dịch với tôi bộ kinh « Lăng-Nghiêm » và bộ « Thành-Duy-Thức-Luận ». Cụ Có căn-dặn tôi, và tôi có hứa với Cụ, là sẽ mang truyền-bá hai bộ trên cho thế-hệ tƣơng-lai. Nay, để trả nghĩa Cụ, theo gƣơng vị-tha của Cụ, tôi tung hai bộ sách này ra bốn phƣơng, tặng Phật-Tử những nguồn ánh-sáng đẹp-đẽ của Chân-lý. Nhƣng chỗ cao-siêu, uyên-áo của Duy-Thức-Học, và cũng là của Phật- Pháp, những điều mà hầu hết các Tổ-Sƣ ở Việt-Nam, ở Trung-Hoa và thế- giới bí-tắc, lại Do Cụ Huyền-Cơ chỉ dạy.
Cụ Huyền-Cơ là một Bồ-Tát bác-học, đã nhiều kiếp tu-chứng, tâm-hồn cao-thƣợng, thanh-tịnh, từ-bi. Cái học của Cụ bao-trùm Pháp-Tính và Pháp- Tƣớng, bao-trùm Chính-Pháp và Duy-Thức, Nhân-Minh. Cụ đã nghiên-cứu hàng trăm bộ Duy-Thức khác nhau ở trƣờng Viễn-Đông Bác-Cổ Hà-Nội. Cụ đã phát-minh ra nhiều điều mói lạ về Nhân-Minh, Duy-Thức.
Cụ đã thành- lập Duy-Thức-Học, sự-nghiệp mà từ đời Phật Thích-Ca đến nay, chỉ có một ít Tổ-Sƣ nhu Huyền Trang, Khuy-Cơ, Cơ-Biện làm nổi. Để cho quyển « Duy-Thức-Học » này đƣợc đầy-đủ, và là căn-bản cho Duy-Thức-Học, tôi đƣa vào nhiều tài-liệu quý-báu của Cụ Huyền-Cơ, để lập một hệ-thống vĩ-đại cho Duy-Thức-Học Việt-Nam, cho Duy-Thức-Học thế- giới. Ƣớc-mong quyển sách này sẽ giúp nhiều cho Phật-Tử. ---o0o--- Phần Thứ Nhất - TỔNG-QUÁT VỀ DUY-THỨC-HỌC Trƣớc khi nghiên-cứu quyển « Duy-Thức-Học » , ta thử tổng-quát các điều cốt-yếu trong sách này.
*** Duy-thức-học thành-lập trên căn-bản: -« Thức bao-trùm hết mọi sự vật trong pháp-giới bao-la, trên khoảng thời-gian vô-tận. » Muốn tiện việc học, ta hãy giả-lập, chia làm hai phần chân, vọng: -Về mặt « VỌNG » : Thức là trí-biết hẹp-hòi, nông-cạn của chúng-sinh. -Về mặt « CHÂN » : Thức là trí-biết tuyệt-đối, bao-trùm pháp-giới của Phật. Cũng gọi là trí, là chân-tâm, là Chân-lý v.v… *** Nay ta đứng về mặt vọng, nghiên-cứu về vọng thức của chúng-sinh.
Tính đặc-biệt của thức là : PHÂN-BIỆT. Phân-biệt mình, ngƣời, lớn, bé, tốt, xấu v.v… Phân-biệt cảnh. Đối với thức là bề trong, cảnh là bề ngoài. *** Muốn tiện việc học, ta chia thức làm 8 phần : Đó là 8 thức : -5 thức đầu -Thức thứ 6.
*** Năm thức đầu, chúng ta biết rất rõ. Khoa-học ngày nay gọi là ngũ-quan. Đó là các phạm-vi thấy biết của mắt, tai, mũi, lƣỡi và thân-thể. Cái gì mắt thấy, gọi là TRẦN, hay CẢNH.
Ví-dụ nhƣ lọ mực. Mắt gọi là CĂN, tức là cơ-quan hoạt-động để thu hình-ảnh. Lọ mực là CẢNH hay là TRẦN. Cái biết lọ mực là THỨC của con mắt, hay là NHÃN- THỨC.
Thân sờ-mó, đụng chạm. Nhất là tay sờ sự-vật biết nhẵn, trơn, nóng, lạnh, mềm, cứng v. Ví dụ tay sờ cái mặt bàn. Tay sờ là CĂN.
Mặt bàn là TRẦN. Cái cảm giác trơn, lạnh là THỨC, nói rỏ hơn là TRẦN-THỨC. Vậy chúng ta nƣơng vào ngũ-quan để biết sự-vật. *** Còn thức thứ 6, là tƣ-tƣởng, phân-biệt, so-sánh, suy-luận, ngƣợc giòng thời-gian tìm nhân, xuôi dòng tìm quả.
Suy từ hẹp đến rộng, từ gần đến xa. Ý-thức giao-thiệp với 5 thức trên, bao quát cả sự-vật. Tổng quát các điều tai nghe mắt thấy để hiểu rõ sự-vật. Căn của ý-thức, gọi là ý.
Tức là cả thần-kinh-hệ có liên-quan đến cái biết, đến trí thông-minh. Trần của ý-thức, gọi là PHÁP, tức là sự-vật. Một pháp tức là một sự-vật. Vật đó có thể có hình hay vô-hình, nhƣ những tƣ- tƣởng thầm-kín trong lòng ngƣời.
Nhân-loại ngày nay nƣơng vào ý-thức để tìm hiểu sƣ-vật, để xây-dựng cuộc-đời, để làm chủ vũ-trụ. Ý-thức ngày nay phát-triển quá đáng. Tóm-lại, 6 căn là : nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý ; tức là : mắt, tai, mũi, lƣỡi, thân và ý. Sáu trần là : Sắc, thanh, hƣơng, vị, xúc và pháp ; tức là : Những hình ảnh mắt thấy ; những tiếng động, tĩnh tai nghe ; những mùi ngửi ; những vị lƣỡi nếm ; những cảm-giác tay và thân sờ-mó, đụng-chạm.
; những sự-vật ý biết. Tức là : Các phạm-vi thấy biết của mắt, của tai, của mũi, của lƣỡi, của thân, của ý. Và tiểu-thừa chỉ biết 6 thức trên. Phật và các bồ-tát còn biết các thức thứ 7 và thứ 8.
Khi đã tu-chứng lên cao, mới biết đƣợc hành-tƣớng của thức thứ 7. Thức này chuyên về CHẤP NGÃ. Ví nhƣ con ốc cứ bo-bo bám lấy vỏ ốc của mình, cho là cả cuộc đời, cả vũ-trụ. Quý-báu lắm, không dám dời ra bao giờ.
Thức thứ bảy thầm-thầm chấp ngã, quá yêu ngã, tôn-thờ ngã, nên giữ chặt lấy, không dám dời ra. Nó hay so-sánh, khởi ra yêu-ghét thiên-lệch, ví nhƣ ngƣời nhỏ-nhen, vừa ích-kỷ, vừa hay ghen-ghét, vừa tham-lam, vừa keo-kiệt, chỉ muốn vơ về mình. Có tu-chứng cao, từ A-la-hán trở lên, mới thoát khỏi nô-lê cho thức này.Khi còn là chúng-sinh, ta bị nó ràng-buộc. Vậy nên biết chính nó làm ta khổ.
Đừng a-tòng binh nó, mà nô-lệ mãi cho nó, không bao-giờ giải-thoát đƣợc. Cái gốc khổ-não, cái gốc tội-lỗi, cái gốc mê-lầm, chính là thức thứ bảy. Ta biết thế, tìm cách giải-thoát khỏi thức này, không chịu để nó lôi kéo. Hãy đi ngƣợc với nó để chóng giải-thoát.
Đó là : quán trí-vô-phân-biệt. *** Phật lại biết một thức nữa, đó là thức thứ 8. Thức này rất nhỏ-nhiệm. Có Phật mới biết đƣợc.
Thức này chuyên-chú về CHỨA-NHÓM. Nó có đủ các hạt giống của tất cả sự-vật trong các cõi. Các hạt giống đó do HUÂN-TẬP mà phát-triển. HUÂN nghĩa là ƣớp.
Ví nhƣ chè để cạnh hoa. Chè đƣợm hƣơng thơm của hoa.Nói rộng ra, đó là ảnh- hƣởng của hoàn-cảnh. Hoàn-cảnh hay, ta đƣợc hay, Hoàn-cảnh dở, ta chịu ảnh-hƣởng dở. TẬP là tập mãi thành thói-quen.
Đứa trẻ tập nhìn, tập nói, tập đi, tập viết, tập đọc, tâp chào, tập suy-nghĩ, tập lễ-độ v. Chúng-sinh tập bao thứ thành thói quen. Nhƣng, nên nhớ, ta đã có các hạt giống sẵn có từ bao kiếp trƣớc, nên nay tập mới chóng thạo. chứ nếu không tập lâu lắm.
Ví dụ con gà con, nó vừa ở trứng chui ra, đã biết chạy đi tìm mồi, biết mổ hạt thóc, biết chạy trốn trƣớc nguy-hiểm. Ví dụ con cọp nhỏ, tuy tập bắt mồi, nhung tài năng, khuynh-hƣớng đã sẵn có từ cha truyền con nối. *** Vậy thức thứ tám ví nhƣ cái kho. Các hạt giống nằm trong đó.
Cảnh ngoài và các thức trƣớc có huân-tập cái gì, nó giữ cái đó. Nếu đƣợc hoàn- cảnh tốt, các hạt giống tốt phát-triển, phát-triển mãi, thành hiện-hành, và hiên-hành lại phát-triển chủng-tử. Một ngày kia, ta sẽ hoàn-toàn hiện-hành Phật. Thức tứ 8 chỉ là cái kho, chứa giữ chủng-tử.
Còn anh chấp là thức thứ 7, ví nhƣ ngƣời giữ kho, không cho ai lấy cái gì trong kho ra. *** Áp-dụng : TU DUY-THỨC 1. Đã biết rõ thế, ta áp-dụng để tu, lợi-ích cho ta. Căn không phân-biệt.
Ví-dụ : con mắt nhìn lọ mực. Trong thời-gian rất ngắn đầu-tiên, hình ảnh lọ mực vào con mắt. Con mắt nhận hình-ảnh đó, nhƣng chƣa phân-biệt. Sau anh thức thứ 6 mới nắm lấy mà phân-biệt so-sánh đủ thứ… Rồi anh thức thứ 7 mới sinh ra yêu, ghét, chê, khen v.v… Vậy tu theo căn, nhƣ đứa trẻ sơ-sinh, rất ngây-thơ, không phân-biệt, ngày càng trong sạch.
Nhƣ gƣơng soi các vật. Soi mà không phân-biệt. Cứ quan-sát nhƣ thế, không bị nô-lệ cho thức thứ 6 và thức thứ 7. Thói-quen này phát-triển mãi, ta sẽ tu-chứng, sẽ gần chân-lý.
Vì mắt ta trong-sạch, thấy sự-thực của sự-vật, tức là gần chân-lý. Cái biết chƣa bị các thức thứ 6 và thứ 7 làm xuyên-tạc theo nghiệp của chúng. - TU THEO HIỆN-LƢỢNG. Tu nhƣ thế là tu theo hiện-lƣợng, theo trực-giác.
Trí biết trong sáng, nhƣ gƣơng soi vật. Không có phân-biệt. Càng ngày càng trong, càng thuần, càng gần chân-lý. - TU THEO TRÍ KHÔNG PHÂN-BIÊT.
Tu nhƣ thế tức là tu theo trí không phân-biệt. Thói-quen không phân-biệt đi ngƣợc với thói-quen phân-biệt của hai thức 6 và 7. Nó ngày càng giải-thoát ta. Dần dần ta đƣợc trí không phân-biệt, và tu-chứng lên cao… *** 4.
– XA-LÌA CHẤP NGÃ VÀ CHẤP PHÁP, XA-LÌA NĂNG, SỞ. Ta biết gốc mọi sự khổ, nguyên-nhân luân-hồi sinh-tử là anh thức thứ 7. Thức này chấp ngã. Rồi đến thức thứ 6.
Thức này chấp pháp, tức là cho sự-vật thực có, rồi yêu sự-vật, nô-lệ cho sự-vật. Ta hãy quán : ly-huyễn. Xa-lìa ngã va pháp. Mọi sự-vật đều huyễn.
Cái gì ta yêu, ta quý, ta thiết-tha, cũng là huyễn. Xa lìa năng, sở. Không thấy có mình, có ngƣời, có hay, dở. Cứ xa-lìa nhƣ thế mãi, sẽ tu-chứng.
*** Ta hãy luôn-luôn đối-phó với thức thứ 7. Nó thầm-thầm chấp ngã. Khi ta chƣa tu-chứng đến A-la-hán, nó vẫn đeo ta hoài. Ta khó thoát nổi nó xui-dục.
Vậy hãy đề-phòng nó tìm cách hoành-hành. Ta cứ yên-trí là bệnh ta còn nặng, còn phải chữa, còn phải đối-trị. Ai bảo mình không chấp ngã là nhầm. Vì câu-sinh ngã-chấp rất nhỏ- nhiệm, rất khó trừ.
Đó là bệnh lâu đời của chúng-sinh. *** Trên đây là những điều cốt-yếu để tu theo duy-thức. Học duy-thức có cái lợi là biết rõ tâm-lý mình và chúng-sinh, không lầm bênh-vực bệnh của mình. Nhƣ thế giúp nhiều cho sự tu-học.
Nhƣng khi ta đã có căn-bản về duy-thức, nên học nhiều về pháp-tính, tức là các kinh liễu-nghĩa. Muốn hiểu sâu quyển « Duy-Thức-Học » này, trƣớc hết nên nghiên-cứu bộ « Phật giáo » để có căn-bản về đạo Phật. Rồi nên nghiên-cứu kinh « Lăng-nghiêm », ta càng sâu hiểu đạo. Sau mới đọc quyển « Duy-thức-học », này, mới hiểu rõ-ràng, và thêm căn-bản vững-chắc về pháp-tƣớng và pháp-tính.
Lại nên nghiên-cứu kinh « Duy-ma-cật », để biết rộng thêm về các hạnh tu của Bồ-tát. Kinh này cảm-hóa ta, làm ta càng thêm cao-thƣợng, trong- sạch, từ-bi. Tâm-hồn càng mở rộng.