Khóa luận tốt nghiệp Y tế: Dương thị vân phân tích tương tác thuốc bất lợi

Khóa luận phân tích tương tác thuốc bất lợi ở bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I bởi Dương Thị Vân, chuyên ngành Dược sĩ.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Phân tích Tương tác Thuốc

Phân tích tương tác thuốc là một lĩnh vực quan trọng trong dược lâm sàng nhằm đảm bảo an toàn dùng thuốc cho bệnh nhân. Khóa luận của Dương Thị Vân tập trung vào nghiên cứu tương tác thuốc bất lợi trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I. Tương tác thuốc xảy ra khi hai hay nhiều thuốc tác động lẫn nhau, có thể làm thay đổi hiệu quả hoặc gây ra tác dụng không mong muốn (ADR). Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về tình trạng tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng hiện tại, giúp dược sĩbác sĩ nâng cao cảnh báo và quản lý hiệu quả.

1.1. Định nghĩa và Phân loại Tương tác Thuốc

Tương tác thuốc được định nghĩa là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thuốc, làm thay đổi dược động học (DĐH) hoặc dược lực học (DLH). Các tương tác thuốc được phân loại thành ba nhóm chính: tương tác về dược động học, dược lực học, và tương tác vật lý hóa học. Mỗi nhóm có mức độ nghiêm trọng (NT) khác nhau, từ nhẹ đến rất nặng, yêu cầu các cách xử trí/quản lý khác nhau để bảo vệ sức khỏe bệnh nhân.

1.2. Ý nghĩa Lâm sàng của Tương tác Thuốc

Trong thực hành lâm sàng, việc phát hiện và quản lý tương tác thuốc giúp giảm tác dụng không mong muốn, nâng cao hiệu quả điều trị và tăng an toàn dùng thuốc. Đặc biệt tại các bệnh viện đa khoa như Bệnh viện Tâm thần Trung ương I, bệnh nhân thường dùng nhiều loại thuốc cùng lúc, tăng nguy cơ tương tác thuốc bất lợi. Do đó, vai trò của dược sĩ lâm sành trong tư vấn và can thiệp là vô cùng quan trọng.

II. Đối tượng và Phương pháp Nghiên cứu

Nghiên cứu của Dương Thị Vân được thực hiện tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I, bao gồm hai mục tiêu chính. Mục tiêu thứ nhất khảo sát thực trạng tương tác thuốc trên bệnh nhân điều trị nội trú thông qua phân tích hồ sơ bệnh án. Mục tiêu thứ hai đánh giá hiệu quả của hoạt động dược lâm sàng về quản lý tương tác thuốc. Phương pháp nghiên cứu kết hợp cả nghiên cứu hồi cứutiến cứu, sử dụng các công cụ như Drug Interaction Facts (DIF), Micromedex (MM) để phát hiện và phân tích – biện giải tương tác thuốc. Dữ liệu được xử lý thống kê để đưa ra những kết luận cụ thể.

2.1. Thiết kế Nghiên cứu và Đối tượng

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi cứu phân tích hồ sơ bệnh án (BA) của bệnh nhân (BN) điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần. Đối tượng nghiên cứu bao gồm bệnh nhân được điều trị tại các khoa khác nhau, có dùng từ 2 loại thuốc trở lên. Tiêu chí loại trừ bao gồm bệnh nhân dùng chỉ một loại thuốc hoặc có hồ sơ bệnh án không đầy đủ. Phương pháp lấy mẫu được thực hiện ngẫu nhiên hoặc toàn bộ phù hợp với khả năng.

2.2. Công cụ và Chiến lược Phân tích

Các công cụ chính được sử dụng gồm Drug Interaction Facts (DIF), Micromedex Solutions (MM) để xác định tương tác thuốc. Nhóm thuốc SSRI (ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin) được tập trung phân tích vì sử dụng phổ biến. Dược sĩ lâm sàng (DSLS) tiến hành phát hiện, phân tích – biện giải từng cặp tương tác, đánh giá mức độ nghiêm trọng và đề xuất cách xử trí/quản lý phù hợp với tiêu chuẩn lâm sàng.

III. Kết quả Chính của Nghiên cứu

Nghiên cứu của Dương Thị Vân phát hiện tỷ lệ cao tương tác thuốc bất lợi xuất hiện trên bệnh án điều trị nội trú. Các cặp tương tác thuốc thường gặp nhất liên quan đến nhóm thuốc tâm thần, đặc biệt SSRI kết hợp với các thuốc khác. Mức độ nghiêm trọng của tương tác thuốc đa dạng, từ mức nhẹ đến mức có khả năng gây tác dụng không mong muốn (ADR) nghiêm trọng. Kết quả cho thấy mức độ chấp thuận của bác sĩ đối với tư vấn của dược sĩ lâm sành đạt tỷ lệ khá tốt, chứng minh hiệu quả của hoạt động dược lâm sàng trong quản lý tương tác thuốc. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những trường hợp bác sĩ không chấp thuận tư vấn do các yếu tố lâm sàng cụ thể.

3.1. Tần suất và Các Cặp Tương tác Thuốc Thường gặp

Tần suất tương tác thuốc bất lợi xuất hiện trên mỗi bệnh án dao động trong khoảng đáng chú ý. Các cặp tương tác thuốc thường gặp bao gồm SSRI với CYP inhibitor, các thuốc tim mạch với thuốc tâm thần, và chống chỉ định (CCĐ) về lâm sàng. Phân tích theo từng khoa điều trị cho thấy tỷ lệ và loại tương tác thuốc khác nhau, phản ánh đặc điểm bệnh nhân và mô hình điều trị tại mỗi khoa.

3.2. Hiệu quả Can thiệp Dược lâm sàng

Sau khi dược sĩ lâm sành can thiệp tư vấn về quản lý tương tác thuốc, tỷ lệ bác sĩ chấp thuận đạt kết quả khá tích cực. Những can thiệp được chấp thuận bao gồm thay đổi liều lượng, điều chỉnh thời gian dùng thuốc, hoặc thay thế bằng loại thuốc khác. Các cách xử trí/quản lý được triển khai đều hướng tới đảm bảo an toàn bệnh nhân và tối ưu hóa hiệu quả điều trị.

IV. Ứng dụng và Khuyến nghị Thực hành

Khóa luận của Dương Thị Vân cung cấp những khuyến nghị giá trị cho thực hành lâm sàng tại các bệnh viện có giường bệnh. Việc triển khai hoạt động dược lâm sàng về quản lý tương tác thuốc cần được tổ chức một cách có hệ thống và định kỳ. Dược sĩ lâm sành cần được đào tạo kỹ năng phát hiện, phân tích – biện giải tương tác thuốc và kỹ năng giao tiếp với bác sĩ. Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) về tương tác thuốc bất lợi tại từng bệnh viện sẽ hỗ trợ công tác giám sát và cảnh báo. Đặc biệt, tại các bệnh viện tâm thần có nền tảng bệnh rối loạn tâm thần (RLTT) phức tạp, công tác này càng trở nên cấp thiết và quan trọng.

4.1. Xây dựng Quy trình Quản lý Tương tác Thuốc

Các bệnh viện nên xây dựng quy trình chuẩn hóa cho phát hiệnquản lý tương tác thuốc tại cơ sở điều trị có giường bệnh. Dược sĩ lâm sành cần tham gia vào quá trình khám bệnh, điều chỉnh thuốc để kịp thời phát hiện tương tác thuốc bất lợi. Sử dụng công nghệ HIS (Hospital Information System) để cảnh báo tự động các tương tác thuốc nguy hiểm giúp giảm lỗi và nâng cao an toàn dùng thuốc.

4.2. Đào tạo và Nâng cao Kỹ năng Chuyên môn

Cần tổ chức đào tạo thường xuyên cho dược sĩ, bác sĩ về tương tác thuốc, tác dụng không mong muốn, và cách xử trí phù hợp. Khuyến khích hợp tác liên chuyên khoa giữa bác sĩdược sĩ lâm sành trong thực hành lâm sàng. Xây dựng văn hóa chuyên môn tôn trọng vai trò tư vấn của dược sĩ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và giảm các vấn đề liên quan tới thuốc (DRP).

21/12/2025
Dương thị vân phân tích tương tác thuốc bất lợi trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần trung ương i khóa luận tốt ngiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thực hành lâm sàng điều trị nội trú, việc phối hợp các thuốc thường mang lại hiệu quả điều trị rất tốt, bên cạnh đó cũng có những nguy cơ khi phối hợp ảnh hưởng trực tiếp đến người bệnh như gây ra hậu quả của tương tác thuốc (TTT). Tương tác thuốc có thể có lợi nếu phối hợp đúng cách, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, tương tác thuốc bất lợi có thể là nguyên nhân làm giảm hiệu quả điều trị, tăng tác dụng không mong muốn, tăng khả năng nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện và nghiêm trọng hơn, có thể dẫn đến các tai biến nguy hiểm, thậm chí dẫn đến tử vong [46], [47]. Ước tính 20-30% các tác dụng không mong muốn (ADR) gây ra bởi TTT. Tỷ lệ này tăng ở người già và những đối tượng bệnh nhân (BN) sử dụng từ hai loại thuốc trở lên [52].

Như vậy, TTT thật sự là một vấn đề cần được quan tâm để sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả. Chế độ phối hợp thuốc và số lượng thuốc sử dụng trên các bệnh nhân điều trị rối loạn tâm thần rất phức tạp. Đặc biệt ở những bệnh nhân rối loạn tâm thần (RLTT) điều trị nội trú, có nhiều bệnh mắc kèm, sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc và chế độ dùng thuốc dài ngày nên tần suất gặp TTT trên đối tượng bệnh nhân này tăng lên rất cao. Nghiên cứu của María Conchita và công sự (2016) phân tích nguy cơ tương tác thuốc tiềm tàng trên bệnh nhân tâm thần phân liệt cho thấy có tới 68,3% bệnh nhân phát hiện có tương tác thuốc tiềm tàng trong kê đơn [29].

Vì vậy, việc quản lý tốt TTT ngay từ giai đoạn kê đơn cũng như đưa ra khuyến cáo để xử trí, có thể giúp bệnh nhân hạn chế gặp phải hậu quả gây ra từ TTT bất lợi, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cho quá trình sử dụng thuốc của bệnh nhân. Nhiều nghiên cứu cho thấy dược sỹ lâm sàng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý tương tác thuốc tại bệnh viện do có kiến thức về các vấn đề liên quan đến thuốc, có cơ hội xem lại bệnh án của bệnh nhân nội trú và sau đó có thể thảo luận với bác sỹ kê đơn để cân nhắc lợi ích và nguy cơ khi phát hiện tương tác thuốc và có các biện pháp tư vấn phù hợp [56]. 1 Bệnh viện Tâm Thần Trung ương I (TTTWI) là Bệnh viện chuyên khoa đầu ngành tâm thần của cả nước, với 620 giường bệnh. Là bệnh viện tuyến cuối nên số lượng bệnh nhân nội trú tại viện thường quá tải từ 10 đến 20% và các ca bệnh thường có tính chất nặng, dai dẳng, do đó nhu cầu sử dụng và phối hợp các thuốc chống rối loạn tâm thần rất cao.

Ngày 24/11/2020 bệnh viện đã xây dựng và ban hành danh mục tương tác thuốc cần lưu ý trong thực hành lâm sàng nội trú nhằm giúp bác sĩ điều trị có thông tin, hướng xử trí về các cặp tương tác thuốc điều trị cho bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện. Không chỉ dừng lại ban hành danh mục hướng dẫn về tương tác thuốc, Ban giám đốc bệnh viện và lãnh đạo khoa Dược rất mong muốn triển khai Nghị định 131/2020/NĐ-CP về dược lâm sàng tại Bệnh viện; trong đó khuyến khích việc triển khai các hoạt động dược lâm sàng tại các khoa lâm sàng (điều 7, nghị định 131) nhằm hỗ trợ các bác sĩ điều trị trong việc xem xét các y lệnh, đơn thuốc được kê trên hồ sơ bệnh án trong quá trình đi buồng bệnh, đặc biệt về việc quản lý tương tác thuốc bất lợi xảy ra trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện. Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài: “Phân tích tương tác thuốc bất lợi trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Tâm Thần Trung Ương I” với 2 mục tiêu sau: 1. Kháo sát thực trạng tương tác thuốc trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện TTTWI 2.

Bước đầu phân tích hiệu quả của hoạt động dược lâm sàng về quản lý tương tác thuốc trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện TTTWI. Tổng quan về tương tác thuốc Tương tác thuốc-thuốc hay còn gọi tương tác thuốc có thể có lợi hoặc bất lợi cho bệnh nhân. Trong một số trường hợp tương tác có thể mang lại lợi ích và được ứng dụng trong điều trị, tuy nhiên phần lớn tương tác thuốc dẫn đến tác dụng bất lợi. Các tương tác thuốc nghiêm trọng nhất đối với các thuốc hướng thần có thể dẫn đến nhiễm độc hệ thần kinh trung ương, tăng huyết áp nghiêm trọng, nhiễm độc tim, rối loạn nhịp thất, trụy tim mạch, kéo dài khoảng QT [40].

Phân loại tương tác thuốc Tương tác thuốc được phân thành hai loại dựa trên cơ chế của tương tác, bao gồm tương tác dược động học và tương tác dược lực học. Tương tác dược động học: Tương tác dược động học (DĐH) là những tương tác làm thay đổi một hay nhiều thông số cơ bản của quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ thuốc. Hậu quả của tương tác dược động học là sự thay đổi nồng độ của thuốc trong huyết tương, dẫn đến thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính. Đây là loại tương tác xảy ra trong suốt quá trình tuần hoàn của thuốc trong cơ thể, khó đoán trước, không liên quan đến cơ chế tác dụng của thuốc [4], [6].

Tương tác dược lực học: Tương tác dược lực học (DLH) là loại tương tác đặc hiệu, có thể biết trước dựa vào tác dụng dược lý và phản ứng có hại của thuốc. Tương tác dược lực học gặp khi phối hợp các thuốc có cùng tác dụng dược lý hoặc tác dụng không mong muốn tương tự nhau hoặc đối kháng lẫn nhau. Đây là loại tương tác đặc hiệu, các thuốc có cùng cơ chế sẽ có cùng một kiểu tương tác dược lực học [4], [6]. Tương tác dược lực học chiếm phần lớn các tương tác gặp phải trong điều trị.

Tương tác dược lực học có thể ngoại suy được giữa các thuốc trong cùng một nhóm. Dịch tễ tương tác thuốc Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu báo cáo về tần suất xuất hiện tương tác thuốc trên đối tượng bệnh nhân điều trị các rối loạn tâm thần (RLTT). Kết quả nghiên cứu của Yazed AlRuthia và các cộng sự tiến hành tại các phòng khám tâm thần ngoại trú trực thuộc một bệnh viện giảng dạy ở Ả Rập Xê Út trên 270 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ xuất hiện TTT mức độ nghiên trọng, trung bình và nhẹ lần lượt là 32,2%; 46,7% và 1,5% [62]. Trong khi đó, một nghiên cứu khác được thực hiện trên 240 bệnh nhân tâm thần tại Ethiopia xác định được 463 TTT tiềm tàng và hầu hết trong số đó là TTT mức độ nghiêm trọng với 198 trường hợp (chiếm 42,8%) hoặc mức độ trung bình với 232 trường hợp (chiếm 50,1%).

Một kết quả khác của nghiên cứu cho thấy 81,65% bệnh nhân có ít nhất một TTT tiềm tàng; 49,5% bệnh nhân có ít nhất một TTT mức độ nghiêm trọng; và 52,3% có ít nhất một TTT mức độ trung bình. Các cặp TTT tiềm tàng thường xuyên xuất hiện nhất được xác định là Haloperidol – Trihexphenidyl (74 lượt) và Chlorpromazin – Haloperidol (36 lượt) [55]. Điều trị phác đồ nhiều thuốc trong các bệnh rối loạn tâm thần là một thực hành lâm sàng phổ biến mặc dù thiếu bằng chứng hỗ trợ và các hướng dẫn điều trị không khuyến cáo. Điều này có thể làm tăng nguy cơ gặp tác dụng phụ, tương tác thuốc bất lợi, cũng như làm giảm tuân thủ điều trị [55].

Tần suất gặp phải tương tác còn thay đổi phụ thuộc lứa tuổi bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Người cao tuổi mắc các rối loạn tâm thần có nguy cơ gặp phải tương tác cao hơn các nhóm tuổi khác do đặc điểm có nhiều bệnh mắc kèm và cần sử dụng nhiều thuốc. Một nghiên cứu cắt ngang, được tiến hành tại trên đối tượng bệnh nhân tâm thần người cao tuổi đã xác định được tổng số 152 tương tác thuốc tiềm tàng trong 96% (46/48) đơn thuốc [49]. Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về tương tác thuốc trên đối tượng bệnh nhân RLTT nhưng số lượng còn rất hạn chế.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tuyền (2021) trên 106 BN tâm thần suy thận chỉ ra trung bình mỗi BN tâm thần suy thận xuất hiện 1,43 lượt TTT bất lợi trong quá trình điều trị [20]. Thời gian gần đây có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề tương tác thuốc tại các bệnh viện đa khoa được thực hiện. Các nghiên cứu về tương tác thuốc chủ yếu tập trung vào việc so 4 sánh, đánh giá các cơ sở dữ liệu sử dụng trong tra cứu tương tác, từ đó tiến hành xây dựng danh mục tương tác thuốc cần chú ý trong thực hành dược lâm sàng để áp dụng cho bệnh viện, cơ sở điều trị cũng như khảo sát tỷ lệ xuất hiện tương tác thuốc. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh (2020) đã xây dựng được 27 cặp tương tác bất lợi cần chú ý tại Bệnh viện đa khoa Kiến An - Hải Phòng với sự đồng thuận của 3 cơ sở dữ liệu khác nhau [10].

Nguyễn Trọng Dự (2020) đã xây dựng được 27 cặp tương tác thuốc chống chỉ định trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện E Trung ương dựa trên sự đồng thuận của 3 cơ sở dữ liệu là MM, DIF và tờ hướng dẫn sử dụng [7]. Bên cạnh đó, các nghiên cứu này cũng tiến hành khảo sát tỷ lệ xuất hiện TTT cho thấy tỷ lệ bệnh án hoặc đơn thuốc (nội trú hoặc ngoại trú) xuất hiện tương tác thuốc dao động khá lớn 17,8% - 70,3% [9], [17]. Những nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ gặp tương tác thuốc ở các nghiên cứu khác nhau là khác nhau và có chiều hướng tăng theo số lượng thuốc sử dụng, đồng thời cảnh báo cho bác sĩ điều trị về nguy cơ gặp phải tương tác thuốc trên lâm sàng, từ đó bác sĩ và dược sĩ cần phải nắm bắt được cơ chế, hậu quả của tương tác thuốc và quản lý những tương tác thuốc một cách phù hợp, đảm bảo an toàn cho người bệnh và đáp ứng được yêu cầu điều trị. Ý nghĩa của tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng Tương tác thuốc là hiện tượng phổ biến trong điều trị.

Đa số tương tác thuốc gây ra hậu quả bất lợi. Ảnh hưởng của tương tác thuốc trên bệnh nhân rất đa dạng, tương tác thuốc có thể làm giảm hiệu quả điều trị, làm tăng nguy cơ xuất hiện phản ứng bất lợi của thuốc, thậm chí làm tăng nguy cơ đe dọa tính mạng và có thể dẫn đến tử vong.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ