Tổng quan nghiên cứu

Thâm hụt cán cân thương mại kéo dài suốt hơn hai thập kỷ kể từ khi mở cửa kinh tế luôn là thách thức vĩ mô trọng yếu của Việt Nam. Nhập siêu liên tục gây áp lực suy giảm dự trữ ngoại hối, đe dọa khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Trước thực trạng này, biện pháp điều chỉnh giảm giá tiền tệ thường được cân nhắc nhằm thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Một minh chứng điển hình trong khu vực là cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, khi Thái Lan phá giá đồng Baht và lập tức chuyển từ thâm hụt sang thặng dư thương mại 1% GDP, sau đó tiếp tục tăng vọt lên mức thặng dư 14,5% GDP vào năm 1998.

Nghiên cứu tập trung giải quyết câu hỏi trọng tâm: Liệu việc giảm giá đồng Việt Nam (VND) có thực sự cải thiện cán cân thương mại song phương theo hiệu ứng đường cong J hay không? Mục tiêu cụ thể là xác định định lượng phản ứng ngắn hạn và dài hạn của cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam với 10 đối tác mậu dịch lớn nhất, bao gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Úc, Đức, Malaysia và Hồng Kông.

Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu thường niên trong giai đoạn 24 năm từ năm 1990 đến năm 2013. Mười đối tác này chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong đó Mỹ chiếm 17% kim ngạch xuất khẩu và Trung Quốc chiếm 21% kim ngạch nhập khẩu. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước và các nhà hoạch định chính sách xây dựng khung điều hành tỷ giá linh hoạt, giảm thiểu thâm hụt thương mại và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý thuyết cốt lõi của nghiên cứu dựa trên điều kiện Marshall-Lerner do Alfred Marshall và Abba Lerner phát triển. Điều kiện này chỉ ra rằng việc phá giá tiền tệ chỉ cải thiện được cán cân thanh toán khi tổng giá trị tuyệt đối của hệ số co giãn xuất khẩu và nhập khẩu theo giá lớn hơn 1.

Theo phân tích của Paul Krugman, sự điều chỉnh tỷ giá luôn tạo ra hai luồng tác động trái chiều: hiệu ứng giá cả (price effect) và hiệu ứng khối lượng (volume effect). Trong ngắn hạn, do tính cứng nhắc của hợp đồng ngoại thương đã ký kết và thói quen tiêu dùng, hiệu ứng giá cả chiếm ưu thế khiến cán cân thương mại xấu đi. Trong dài hạn, khi các hợp đồng mới được tái lập và người tiêu dùng thích nghi với hàng hóa thay thế, hiệu ứng khối lượng chiếm ưu thế giúp cán cân thương mại phục hồi và tăng trưởng theo quỹ đạo hình chữ J.

Nghiên cứu áp dụng định nghĩa mở rộng về đường cong J của Rose và Yellen (1989), xác nhận hiệu ứng khi: hệ số ngắn hạn đổi dấu từ âm sang dương theo thời gian; hoặc hệ số dài hạn mang giá trị dương có ý nghĩa thống kê trong khi hệ số ngắn hạn âm hoặc không có ý nghĩa. Mô hình thực nghiệm tích hợp ba khái niệm cốt lõi: cán cân thương mại song phương (tỷ số xuất khẩu trên nhập khẩu), thu nhập thực tế quốc gia (chỉ số GDP thực năm gốc 2005) và tỷ giá hối đoái thực song phương (REX).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ Thống kê Thương mại theo Hướng (DOTS) và Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 24 quan sát chuỗi thời gian hàng năm trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2013 cho 10 quốc gia, tạo nên bộ dữ liệu 240 quan sát tổng thể. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích dựa trên tiêu chí quy mô mậu dịch vượt trội, đại diện cho hơn 60% tổng giá trị mậu dịch quốc tế của Việt Nam.

Quy trình phân tích kinh tế lượng được tiến hành qua ba giai đoạn: kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF), kiểm định độ ổn định cấu trúc CUSUM và CUSUMQ, và kiểm định đồng liên kết theo mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL của Pesaran, Shin và Smith (2001). Lý do lựa chọn mô hình ARDL là vì phương pháp này cho phép kiểm định mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các chuỗi dữ liệu có bậc tích hợp hỗn hợp gồm cả sai phân bậc 0 là I(0) và sai phân bậc 1 là I(1), không đòi hỏi tất cả các biến phải dừng cùng bậc, đồng thời duy trì độ tin cậy vượt trội đối với quy mô mẫu vừa và nhỏ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kiểm định nghiệm đơn vị ADF cho thấy các biến trong mô hình có bậc dừng không đồng nhất. Biến chỉ số tăng trưởng GDP của Việt Nam dừng ở sai phân bậc 1 với mức ý nghĩa 1%. Đối với Thái Lan, cả ba biến cán cân thương mại, thu nhập thực và tỷ giá thực đều dừng ở bậc 0 với mức ý nghĩa 1%. Trường hợp của Úc ghi nhận cả ba biến đều dừng ở sai phân bậc 1 với mức ý nghĩa 1%. Các đối tác Trung Quốc, Singapore và Malaysia có tỷ giá thực và GDP dừng ở bậc 0, trong khi cán cân thương mại dừng ở bậc 1 với mức ý nghĩa 1%.

Kiểm định đồng liên kết ARDL mang lại kết quả vượt trội khi toàn bộ 10 mô hình song phương đều có giá trị thống kê t vượt qua mức giá trị biên trên 4,36 ở mức ý nghĩa 5% và 4,04 ở mức ý nghĩa 10%. Các thống kê t cụ thể đạt mức rất cao: Trung Quốc đạt 9,81; Malaysia đạt 8,53; Hàn Quốc đạt 8,38; Singapore đạt 7,51; Hồng Kông đạt 7,41; Đức đạt 6,77; Thái Lan đạt 6,67; Mỹ đạt 6,28; Nhật Bản đạt 6,09 và Úc đạt 5,14. Điều này chứng minh tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn vững chắc giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại song phương của Việt Nam với toàn bộ 10 đối tác.

Về kiểm định hiệu ứng đường cong J, kết quả phân tích trạng thái ngắn hạn chỉ ra rằng chỉ duy nhất cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam và Úc có hiện tượng hệ số tỷ giá đổi dấu từ âm sang dương ở độ trễ bậc 1 với giá trị thống kê t đạt 5,14, chính thức xác nhận sự tồn tại của đường cong J. Đối với 9 đối tác còn lại (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Đức, Malaysia và Hồng Kông), hiệu ứng đường cong J không xuất hiện.

Thảo luận kết quả

Việc đường cong J không tồn tại ở 9 trên 10 đối tác thương mại lớn phản ánh sâu sắc đặc thù cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Nền sản xuất xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, linh kiện bán thành phẩm và máy móc thiết bị (chiếm tỷ trọng trên 80% tổng giá trị nhập khẩu). Khi tỷ giá VND/USD tăng (VND giảm giá), giá vốn nhập khẩu các yếu tố đầu vào tăng lên ngay lập tức, đẩy chi phí sản xuất trong nước tăng cao và triệt tiêu lợi thế cạnh tranh về giá của hàng hóa xuất khẩu.

Hiện tượng này lý giải vì sao hiệu ứng giá cả lấn át hoàn toàn hiệu ứng khối lượng trong phần lớn các mối quan hệ song phương. Phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu kinh điển của Rose và Yellen (1989) cũng như Bahmani-Oskooee và Brooks (1999), khẳng định việc sử dụng dữ liệu thương mại song phương giúp loại bỏ sự triệt tiêu tác động giữa các quốc gia, từ đó bác bỏ giả định cho rằng phá giá tiền tệ luôn tự động cải thiện cán cân thương mại.

Trong thực tế phân tích, toàn bộ các diễn biến này có thể được trực quan hóa thông qua đồ thị phản ứng xung mô tả biến thiên của cán cân thương mại qua các độ trễ thời gian từ 0 đến 3 năm, kết hợp bảng ma trận hệ số ngắn hạn và dài hạn để so sánh mức độ nhạy cảm tỷ giá giữa từng đối tác riêng biệt. Kiểm định CUSUM và CUSUMQ tại mức ý nghĩa 5% cũng xác nhận tính ổn định cấu trúc dài hạn đối với 5 đối tác lớn gồm Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực thi chính sách tỷ giá linh hoạt dựa trên rổ tiền tệ: Ngân hàng Nhà nước cần chấm dứt việc neo tỷ giá thuần túy vào đồng USD, chuyển dịch sang cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm dựa trên một rổ tiền tệ đa phương gồm 8 đồng tiền chủ chốt (USD, EUR, JPY, CNY, KRW, SGD, THB, AUD). Mục tiêu là duy trì biên độ dao động tỷ giá ổn định trong khoảng +/- 3%, giảm thiểu rủi ro tỷ giá chéo, thực hiện lộ trình tái cấu trúc trong giai đoạn 2024-2026.

Nâng cấp chuỗi cung ứng và phát triển công nghiệp hỗ trợ: Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa các ngành hàng xuất khẩu trọng điểm (điện tử, dệt may, da giày) từ mức 30% lên tối thiểu 45% vào năm 2028. Giải pháp này giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu, vô hiệu hóa tác động tiêu cực của chi phí nhập khẩu gia tăng khi tỷ giá biến động.

Tái cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu song phương: Các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần chủ động đa dạng hóa thị trường đối tác, từng bước thu hẹp thâm hụt thương mại với Trung Quốc (chiếm 21% tổng nhập khẩu) và Hàn Quốc (chiếm 12% tổng nhập khẩu). Đồng thời, tập trung nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng để tối ưu hóa thặng dư thương mại với các thị trường tiêu dùng lớn như Mỹ (chiếm 17% kim ngạch xuất khẩu) và Đức (chiếm 4%), hoàn thành các mốc chỉ tiêu theo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030.

Hoàn thiện thị trường tài chính phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá: Ngân hàng Nhà nước cùng hệ thống các ngân hàng thương mại cần mở rộng và đơn giản hóa các sản phẩm phái sinh tiền tệ như hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng hoán đổi (Swap) và hợp đồng quyền chọn (Option). Phấn đấu đạt mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô vừa và lớn tiếp cận các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá lên mức 50% trong vòng 2 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên phân tích tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương có thể khai thác các bằng chứng thực nghiệm của luận văn để đánh giá tác động truyền dẫn của tỷ giá, từ đó xây dựng các kịch bản can thiệp thị trường ngoại hối chuẩn xác và hiệu quả.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế và Kinh tế học ứng dụng có thể sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về ứng dụng mô hình ARDL, kiểm định nghiệm đơn vị ADF và phân tích kinh tế lượng chuỗi thời gian trên dữ liệu song phương.

Giám đốc tài chính và nhà quản trị doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Ban điều hành tại các doanh nghiệp có hoạt động thương mại quốc tế với 10 thị trường trọng điểm có thể vận dụng kết quả nghiên cứu để dự báo biến động dòng tiền, xây dựng chiến lược định giá hàng hóa xuất khẩu và thiết lập chính sách quản trị rủi ro hối đoái tối ưu.

Chuyên viên phân tích vĩ mô tại các định chế tài chính: Các chuyên gia phân tích tại công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, ngân hàng thương mại có thể tích hợp mô hình cán cân thương mại song phương vào hệ thống dự báo kinh tế vĩ mô, hỗ trợ việc đưa ra khuyến nghị phân bổ tài sản đầu tư chính xác.

Câu hỏi thường gặp

Hiệu ứng đường cong J trong thương mại quốc tế là gì? Hiệu ứng đường cong J mô tả hiện tượng cán cân thương mại của một quốc gia tạm thời suy giảm trong ngắn hạn sau khi phá giá đồng nội tệ do hiệu ứng giá cả chiếm ưu thế, trước khi phục hồi và thặng dư trong dài hạn nhờ hiệu ứng khối lượng phát huy tác dụng.

Tại sao giảm giá tiền tệ không cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam với hầu hết đối tác? Nguyên nhân cốt lõi là do hơn 80% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất. Khi VND giảm giá, chi phí nhập khẩu nguyên liệu tăng ngay lập tức, triệt tiêu lợi thế cạnh tranh xuất khẩu và khiến hiệu ứng khối lượng không thể bù đắp hiệu ứng giá cả.

Mối quan hệ thương mại nào của Việt Nam xác nhận sự tồn tại của đường cong J? Kết quả kiểm định ARDL trong giai đoạn 24 năm từ năm 1990 đến năm 2013 xác nhận chỉ duy nhất cán cân thương mại song phương Việt Nam - Úc tồn tại hiệu ứng đường cong J, với hệ số tỷ giá đổi dấu từ âm sang dương ở độ trễ bậc 1 và thống kê t đạt 5,14.

Ưu điểm nổi bật của mô hình ARDL so với các phương pháp kiểm định truyền thống là gì? Mô hình ARDL của Pesaran, Shin và Smith (2001) cho phép kiểm định đồng liên kết trên các chuỗi dữ liệu có bậc tích hợp hỗn hợp gồm cả I(0) và I(1), không yêu cầu kiểm định tiền nghiệm đơn vị nghiêm ngặt và đặc biệt hiệu quả trên các mẫu dữ liệu chuỗi thời gian quy mô nhỏ.

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần làm gì để ứng phó với biến động tỷ giá hối đoái? Doanh nghiệp cần chủ động sử dụng các công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn để cố định tỷ giá, đồng thời đẩy mạnh tìm kiếm nguồn nguyên liệu nội địa nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa lên trên 45% để giảm chi phí đầu vào ngoại tệ.

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm định thành công mô hình cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam và 10 đối tác lớn giai đoạn 1990-2013 bằng phương pháp ARDL hiện đại.
  • Xác nhận mối quan hệ đồng liên kết dài hạn vững chắc giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại ở toàn bộ 10 quốc gia với thống kê t vượt ngưỡng biên trên 4,36.
  • Hiệu ứng đường cong J chỉ tồn tại duy nhất trong quan hệ thương mại song phương với Úc, bác bỏ quan điểm cho rằng phá giá VND luôn giúp cải thiện cán cân thương mại tổng thể.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển đổi cơ chế điều hành tỷ giá sang neo theo rổ tiền tệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ để nâng cao giá trị gia tăng quốc gia.
  • Cung cấp cơ sở khoa học định lượng vững chắc giúp hệ thống hoạch định chính sách tiền tệ và cộng đồng doanh nghiệp chủ động thích ứng trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Hãy tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về dữ liệu phân rã cấp độ ngành hàng và áp dụng ngay các giải pháp quản trị rủi ro tỷ giá để tối ưu hóa hiệu quả ngoại thương của nền kinh tế.