chương I - Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 giải thích từ ngữ: “Sản phẩm du lịch (tourist product) là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Như vậy, sản phẩm du lịch là những cái nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách du lịch, nó bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và các 12 tiện nghi cho du khách được tạo nên bởi yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Sản phẩm bao gồm hai thành phần quan trọng: Tài nguyên du lịch, các dịch vụ và hàng hóa du lịch. Khái niệm sản phẩm du lịch phải được hiểu theo nghĩa sản phẩm hoàn chỉnh chứ không phải là sản phẩm riêng lẻ.
Việc nhận thức đúng khái niệm về sản phẩm du lịch là cần thiết để nâng cao tính hợp tác của các đơn vị, cá nhân tham gia cung cấp sản phẩm du lịch nhằm đem lại sự hài lòng nhất cho khách hàng. Sản phẩm du lịch là một loại hàng hóa nhưng đó là loại hàng hóa đặc biệt, nó đặc biệt không chỉ là kết quả của một quá trình đầu tư nghiên cứu, sản xuất mà đó còn là sản phẩm mang tính đặc trưng văn hóa cao. Tạo ra một sản phẩm du lịch chính là việc khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các địa phương vào hoạt động du lịch. Sản phẩm du lịch cũng còn là cách tổ chức, điều phối các chương trình du lịch.
Sản phẩm du lịch thường được cụ thể hóa bằng các sản phẩm vật chất cung cấp cho du khách ở những nơi du khách dừng chân, nghỉ ngơi hay tham quan du lịch. Đó còn là phong cách của người làm du lịch. “Giá trị của sản phẩm du lịch được đánh giá bằng hai hình thức: đo đếm được và không đo đếm được. Đo đếm được là doanh thu từ hoạt động du lịch còn không đo đếm được là ấn tượng của du khách sau khi sử dụng các sản phẩm du lịch”.
Kết cấu của sản phẩm du lịch Kết cấu của sản phẩm du lịch bao gồm 2 bộ phận hợp thành đó là sản phẩm sản phẩm vật chất và sản phẩm phi vật chất. Sản phẩm vật chất là những sản phẩm hữu hình (hàng hoá) được các doanh nghiệp du lịch cung cấp cho khách du lịch. Sản phẩm phi vật chất là những sản phẩm dịch vụ tồn tại 13 dưới dạng vô hình thể hiện ở một sự trải nghiệm, một giá trị tinh thần hoặc một sự hài lòng hay không hài lòng. Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình hoặc vô hình.
Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn hoặc không cụ thể như chất lượng dịch vụ, bầu không khí nơi nghỉ mát. Như trên đã nói: Sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp gồm nhiều thành phần, nhiều bộ phận gắn kết với nhau. Để tiện cho việc phân tích và tính toán, dựa trên những hiểu biết về các thành phần của sản phẩm du lịch và kết hợp chúng với nhau người ta phân chia thành 7 nhóm hàng hóa dịch vụ như sau: Nhóm 1: Bao gồm các chương trình du lịch. Đây là nhóm quan trọng nhất trong kinh doanh du lịch, được sản xuất từ nguyên liệu là các giá trị văn hóa, lịch sử, nhân văn, cảnh quan thiên nhiên.
Đặc trưng của nhóm này là càng mang tính cá biệt độc đáo bao nhiêu thì giá trị sản phẩm càng cao bấy nhiêu. Đa phần các nước khi sản xuất chương trình du lịch đi theo 3 hướng: khai thác sâu vào các giá trị lịch sử, xu hướng sinh thái điền dã và du lịch tìm kiếm thị trường, cơ hội đầu tư. Nhóm 1 quyết định bộ mặt du lịch của một quốc gia, của hoạt động kinh doanh du lịch. Nhóm 2: Nhóm hàng phục vụ lưu trú bao gồm các loại buồng ngủ.
Xu hướng hiện nay là kết hợp giữa hiện đại và văn hóa truyền thống của dân tộc. Tính hiện đại và dân tộc hòa vào nhau. Hiện đại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du khách khi sử dụng sản phẩm du lịch, còn truyền thống tạo nên tính độc đáo, hấp dẫn và nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Nhóm 3: Nhóm hàng ăn - uống.
Đây cũng là nhóm hàng rất phong phú với hàng ngàn món ăn theo phong cách Âu, Á, món ăn dân tộc. Chất lượng hàng hóa của nhóm này cần đạt tới mức đủ chất dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh 14 an toàn thực phẩm, lạ miệng, độc đáo… Nhóm hàng này được sản xuất thông qua công đoạn chế biến và trang trí các món ăn, đồ uống rất tỉ mỉ [12,tr. Nhóm 4: Nhóm hàng vận chuyển bao gồm các phương tiện vận chuyển như đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không… Nhóm hàng này có mục đích vận chuyển du khách đến điểm tham quan du lịch và đảm bảo sự an toàn của họ trong suốt cuộc hành trình. Nhóm 5: Nhóm hàng lưu niệm.
Yêu cầu của nhóm hàng này là phải mang đậm của tuyến - điểm du lịch, của từng địa phương, vùng miền, quốc gia. Ví như du khách đến Huế ai cũng muốn mua cho mình một chiếc nón lá hay may một bộ áo dài thướt tha, đến miền Tây có đặc sản trái cây và sản phẩm từ trái cây mang về làm quà. Nhóm hàng này được sản xuất chủ yếu qua các ngành nghề thủ công truyền thống như gốm sứ, mây tre đan, chạm khác… Nhóm 6: Bao gồm cơ sở hạ tầng, giao thông liên lạc, điện, nước… Nhóm 7: Các dịch vụ bổ xung và các hàng hóa khác. Nhóm hàng này rất phong phú và đa dạng.
Các dịch vụ bổ sung có thể là vui chơi giải trí, tư vấn, chăm sóc sắc đẹp… theo yêu cầu của du khách. Các loại hàng hóa thông dụng được đưa vào kinh doanh du lịch cũng rất phong phú. Bao gồm tất cả các mặt hàng buôn bán trên thị trường, đặc biệt là tại các cửa hàng, siêu thị mà du khách trong chuyến hành trình của mình bỏ tiền ra mua bỏ tiền ra mua để mang về. Hiện nay, lượng hàng hóa được bán qua con đường du lịch ngày càng nhiều.
Do đó, ngành kinh doanh trong du lịch còn được coi là một ngành xuất khẩu tại chỗ. Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du lịch, người ta rút ra những yếu tố căn bản để lập nên những mô hình sản phẩm du lịch. Tùy theo yếu tố thiên nhiên của mỗi nước và quan điểm của mỗi tác giả mà từ đó có mô hình 4S, 3H của Mỹ hay mô hình 6S của Pháp. 15 Mô hình 4S - Sea: Biển là yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch.
Những nơi nào có bãi biển đẹp, sạch sẽ là nơi du khách đổ xô về tắm biển, nghỉ dưỡng, lướt sóng,. - Sun: Đối với khách du lịch quốc tế, yếu tố mặt trời, ánh nắng rất quan trọng. Là những người ở xứ lạnh, ít khi thấy ánh mặt trời vì vậy họ thường tìm đến những nơi nắng ấm để tắm và phơi nắng. - Shop: Mua sắm rất quan trọng với khách du lịch, khách đi du lịch hầu hết là để thỏa mãn sự hiểu biết, kinh nghiệm.
Họ muốn biết những nơi xa lạ, những phong tục tập quán, lối sống của dân cư địa phương, những nét văn hóa, sinh hoạt của sắc tộc, của các bộ lạc hoang sơ,.Và khi ra về, ngoài những ấn tượng, những kinh nghiệm mà họ đã có được một cách vô hình, họ cần một thứ gì đó làm kỷ niệm cho chuyến đi của họ, quà tặng bạn bè, người thân,. Các cửa hàng lưu niệm, mua sắm giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thu hút khách du lịch. Điều này cho ta thấy ở những nơi nghèo nàn hoặc các cửa hàng mà thuế hải quan đánh quá cao trên sản phẩm khách mua làm quà lưu niệm là những nơi ít khách du lịch. Trái lại, những nơi có chính sách thuế khóa về hải quan thoáng là những nơi khách du lịch thường lui tới và giới thiệu bạn bè, người thân đi du lịch.
Những nơi này là nơi thu được những nguồn ngoại tệ đáng kể cho ngành du lịch. - Sex hay Sand: Yếu tố hấp dẫn giới tính bao hàm nhiều nghĩa khác nhau. Nhưng dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa thì chữ Sex trong du lịch thể hiện tính khêu gợi, hấp dẫn và để đáp ứng sự thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Vì vậy trong du lịch có từ kèm theo chữ sex, đó là sex-tour.
16 Những năm 90 của thế kỷ 20, từ khi Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi bị bệnh dịch AIDS hoành hành, khách du lịch đổ xô về Châu Á, Đông Nam Á, những nước kém phát triển và dịch bệnh lây lan với tốc độ chậm để thỏa mãn một phần nhu cầu sinh lý với hy vọng tỷ lệ an toàn cao hơn những nước khác. Những năm gần đây, các nước Đông Nam Á, và Châu Á đã thu về nguồn lợi kinh tế đáng kể khi thả nổi vấn đề sex trong du lịch. Tuy nhiên kéo theo là những hệ lụy ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội mà không thể bù đắp được. Nếu loại trừ yếu tố sex trong du lịch thì yếu tố Sand – Bãi cát cũng rất hấp dẫn du khách.
Với những bãi cát trắng mịn, trải dài dọc theo bờ biển sẽ hấp dẫn du khách. Người ta thích phơi mình trên cát để tắm nắng hay thư giãn, trẻ em thích đùa nghịch trên cát, xây lâu đài, đắp những hình thù từ cát,. Ở Việt Nam có rất nhiều bãi biển đẹp với cát trắng chạy dài vẫn còn chưa được sử dụng. Chắc hắn trong tương lai Việt Nam sẽ khai thác và biến những nơi này thành những điểm thu hút khách du lịch.
Mô hình 3H - Heritage: Di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa, nhà thờ. Những lĩnh vực thuộc về di sản như văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, công nghệ, những công trình kiến trúc cổ của một vùng, một đất nước tùy theo mức độ quan trọng, quí giá có thể trở thành di sản văn hóa của một quốc gia, của thế giới. Ở Việt Nam có nhiều di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hóa được thế giới công nhận như phố cổ Hội An, các lăng tẩm của vua chúa thời Nguyễn ở cố đô Huế,. 17 Song song với việc phát triển du lịch, việc phát triển, bảo tồn, vun đắp các giá trị truyền thống dân tộc được coi trọng, vì văn hóa là một nhân tố, một động lực vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển.