Phần mở đầu, nội dung và kết quả nghiên cứu, kết luận và kiến nghị. Nội dung của đề tài gồm 03 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch theo hƣớng bền vững Chƣơng 2: Thực trạng phát triển du lịch theo hƣớng bền vững tại Huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch theo hƣớng bền vững tại Huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình SVTH: Nguyễn Văn Trƣờng 3 --- Khóa luận tốt nghiệp GHVD: TS. Nguyễn Hoàng Diễm My PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1.
Những vấn đề lý luận về phát triển và phát triển du lịch theo hƣớng bền vững 1. Một số khái niệm 1. Phát triển Trong từ điển Oxford phát triển đƣợc định nghĩa là: “Sự gia tăng của một vật theo hƣớng tiến bộ hơn,…”. Theo quan điểm triết học “phát triển là một khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hƣớng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu”. Phát triển theo hƣớng bền vững Tại hội thảo của Liên hiệp quốc về Con ngƣời và môi trƣờng (UNHE, 1972) tổ chức tại Thụy Điển, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trƣờng lần đầu tiên đã đề cập đến: “Nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất, bao gồm không khí, nƣớc, đất. thực vật, động vật và đặc biệt các mẫu hệ sinh thái tự nhiên phải đƣợc bảo vệ vì lợi ích của thế hệ hôm nay và tƣơng lai, thông qua hoạch định và quản lý thận trọng”. [1] Thuật ngữ phát triển bên vững lần đầu tiên đƣợc sử dụng trong bản “Chiến lƣợc bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN, 1980) đề ra, đã đƣa ra mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt đƣợc sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây đƣợc đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.
[2] Theo định nghĩa của Ủy ban quốc tế về Môi trƣờng và Phát triển (WCED, 1987) trong báo cáo “Tƣơng lai của chúng ta” lần đầu tiên đã đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối đầy đủ có nội dung, “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng đƣợc nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thƣơng khả năng của các thế hệ tƣơng lai SVTH: Nguyễn Văn Trƣờng 4 --- Khóa luận tốt nghiệp GHVD: TS. Nguyễn Hoàng Diễm My trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ”. Và đây cũng là mộ trong những định nghĩa đƣợc sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Nội hàm về phát triển bền vững đƣợc tái khẳng định ở Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới Rio de Janeiro, Brazil (1992) và bổ sung hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg, Nam Phi (2002): “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển đó là: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng”.
[3] Trong định nghĩa của Brundtland thì: “Phát triển bền vững đƣợc hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cấu của các thế hệ mai sau”. Tuy nhiên nội dung chủ yếu của vấn đề này xoay quanh vấn đề kinh tế. Tổng hợp lại những quan điểm trên, có thể hiểu rằng: “Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó có kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là Kinh tế, xã hội và môi trƣờng nhằm thỏa mãn đƣợc nhu cầu xã hội hiện tại nhƣng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tƣơng lai”. Đó cũng là nội dung định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam.
Hệ xã hội Phát triển bền vững Hệ kinh tế Hệ tự nhiên Nguồn: Phạm Trung Lương, 2002 SVTH: Nguyễn Văn Trƣờng 5 --- Khóa luận tốt nghiệp GHVD: TS. Nguyễn Hoàng Diễm My 1. Các tiêu chí của phát triển bền vững [4] Cũng nhƣ tăng trƣởng kinh tế, phát triển bền vững có những thƣớc đo riêng và đặc trƣng. Không chỉ đánh giá một yếu tố mà phải kết hợp đánh giá trên 3 phƣơng diện kinh tế - xã hội - môi trƣờng.
Thứ nhất, phát triển bền vững về kinh tế là phát triển nhanh và an toàn, chất lƣợng. Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên đƣợc tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế đƣợc chia sẻ một cách bình đẳng. Yếu tố đƣợc chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vƣợng chung cho tất cả mọi ngƣời, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng nhƣ không xâm phạm những quyền cơ bản của con ngƣời. Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là, giảm dần mức tiêu phí năng lƣợng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống; Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trƣờng; Ba là, bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục; Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Năm là, công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lƣợng đã sử dụng).
Nền kinh tế đƣợc coi là bền vững cần đạt đƣợc những yêu cầu sau: (1) Có tăng trƣởng GDP và GDP đầu ngƣời đạt mức cao. Nƣớc phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trƣởng, nƣớc càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trƣởng mức độ cao. Các nƣớc đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trƣởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế. (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá phát triển bền vững về kinh tế.
Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trƣởng mới có thể đạt đƣợc bền vững. (3) Tăng trƣởng kinh tế phải là tăng trƣởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trƣởng bằng mọi giá. Thứ hai, phát triển bền vững về xã hội đƣợc đánh giá bằng các tiêu chí, nhƣ HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hƣởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có SVTH: Nguyễn Văn Trƣờng 6 --- Khóa luận tốt nghiệp GHVD: TS.
Nguyễn Hoàng Diễm My sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hƣớng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn. Công bằng xã hội và phát triển con ngƣời, chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu ngƣời; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hƣởng thụ về văn hóa, văn minh. Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con ngƣời và cố gắng cho tất cả mọi ngƣời cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận đƣợc. Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung chính: Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trƣờng đến đô thị hóa; Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm là, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Sáu là, tăng cƣờng sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định.
Thứ ba, phát triển bền vững về môi trƣờng. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,… đều tác động đến môi trƣờng và gây ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trƣờng là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lƣợng môi trƣờng sống của con ngƣời phải đƣợc bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nƣớc, đất, không gian địa lý, cảnh quan.
Chất lƣợng của các yếu tố trên luôn cần đƣợc coi trọng và thƣờng xuyên đƣợc đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế. Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng sống. Phát triển bền vững về môi trƣờng đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trƣờng tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con ngƣời nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trƣờng tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con ngƣời và các sinh vật sống trên trái đất. Phát triển bền vững về môi trƣờng gồm những nội dung cơ bản: Một là, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Hai là, phát triển không vƣợt quá ngƣỡng chịu tải của hệ sinh thái; Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học, SVTH: Nguyễn Văn Trƣờng 7 --- Khóa luận tốt nghiệp GHVD: TS.
Nguyễn Hoàng Diễm My bảo vệ tầng ôzôn; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là, giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nƣớc, khí, đất, lƣơng thực thực phẩm), cải thiện và khôi phục môi trƣờng những khu vực ô nhiễm… 1. Các khái niệm về du lịch và du khách a) Khái niệm về du lịch: Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nƣớc này sang một nƣớc khác mà không thay đổi nơi cƣ trú hay nơi làm việc.