Tổng quan nghiên cứu

Sự gia tăng nhu cầu năng lượng toàn cầu đã thúc đẩy việc phát triển các công trình ngầm quy mô lớn nhằm lưu trữ hydrocarbon an toàn và bền vững. Dự án Hầm chứa Jurong tại Singapore là hệ thống hang ngầm thương mại đầu tiên ở Đông Nam Á với dung tích 1,47 triệu mét khối, đòi hỏi khối lượng khai đào đất đá lên tới khoảng 3 triệu mét khối. Công trình gồm năm hầm chứa lớn với kích thước mỗi hầm rộng 20 mét, cao 27 mét và dài 340 mét, đặt ở độ sâu từ 100 đến 132 mét dưới lòng đất. Tuy nhiên, quá trình khai đào các không gian ngầm khẩu độ lớn luôn đối mặt với rủi ro tai biến địa chất như sụt lún vòm hầm, trồi đáy hoặc phá hủy dẻo thành vách, đe dọa trực tiếp đến tính toàn vẹn của kết cấu và gây nguy cơ rò rỉ chất lưu.

Nghiên cứu tập trung vào hầm chứa CS1-1 thuộc hệ tầng trầm tích Jurong nhằm giải quyết bài toán dự đoán, kiểm soát chuyển vị và đánh giá độ ổn định của khối đá xung quanh trong suốt vòng đời công trình. Mục tiêu cụ thể là xác định các thông số cơ lý khối đá theo tiêu chuẩn Hoek-Brown, mô phỏng quá trình khai đào phân tầng bằng phương pháp phần tử hữu hạn hai chiều, kiểm định tính tương thích của hệ thống gia cố kinh nghiệm và xây dựng biểu đồ đánh giá an toàn đa tiêu chí khi lưu chứa dầu thô và khí thiên nhiên hóa lỏng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc thiết kế, quan trắc và thi công các công trình kho ngầm dự trữ năng lượng quốc gia tại Việt Nam như các cụm dự án tại Dung Quất, Nghi Sơn và Long Sơn, góp phần giảm thiểu rủi ro kỹ thuật và tối ưu hóa chi phí đầu tư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu kết hợp các hệ thống phân loại địa kỹ thuật kinh nghiệm và mô hình cơ học môi trường liên tục để mô tả ứng xử phi tuyến của khối đá nứt nẻ. Hai lý thuyết cốt lõi được ứng dụng gồm tiêu chuẩn phá hoại Hoek-Brown tổng quát và hệ thống phân loại chất lượng khối đá theo chỉ số Q của Barton cùng chỉ số độ bền địa chất GSI của Hoek và Marinos.

Tiêu chuẩn Hoek-Brown tổng quát cho phép xác định cường độ nén và mô đun biến dạng của khối đá nứt nẻ dựa trên cường độ nén đơn trục của đá nguyên vẹn, hằng số vật liệu thạch học, chỉ số GSI và hệ số xáo trộn nổ mìn dao động từ 0 đến 0,5. Hệ thống Q của Barton với sáu tham số đầu vào được sử dụng để phân loại chất lượng khối đá từ mức Khá (giá trị Q từ 4 đến 10) đến Rất tốt (giá trị Q từ 40 đến 100). Khái niệm tỷ lệ hỗ trợ khai đào ESR được tích hợp nhằm tính toán kích thước tương đương của công trình có chiều cao 27 mét. Độ ổn định tổng thể được kiểm soát thông qua hệ số an toàn Strength Factor, phản ánh tỷ số giữa cường độ kháng cắt sẵn có của khối đá và ứng suất phát sinh tại từng điểm khảo sát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm gồm 84 mẫu lõi đá thu thập từ các lỗ khoan khảo sát sâu tại dự án Hầm chứa Jurong. Toàn bộ mẫu được thí nghiệm nén ba trục và nén đơn trục tại Viện Cơ học Đất đá thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 1 năm 2011. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng đại diện theo bốn nhóm thạch học chính: đá bùn khô với cường độ nén 173,2 MPa, đá bùn ướt, đá vụn núi lửa khô với cường độ nén 165 MPa và đá vụn núi lửa ướt đạt cường độ nén 273,04 MPa. Mỗi nhóm thạch học được kiểm tra tối thiểu 5 mẫu nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê và loại bỏ các sai số ngẫu nhiên do tính dị hướng của đá trầm tích.

Phương pháp phân tích số hai chiều dựa trên phần tử hữu hạn được thực hiện thông qua phần mềm Phase 2 theo trạng thái biến dạng phẳng. Lý do lựa chọn phương pháp này là khả năng mô phỏng chi tiết quá trình giải phóng ứng suất từng bước qua ba giai đoạn khai đào: đào vòm đỉnh cao 9 mét, đào tầng giữa cao 9 mét và đào tầng đáy cao 9 mét. Trường ứng suất nguyên thủy được thiết lập dựa trên kết quả đo nứt vỡ thủy lực thực địa với tỷ số ứng suất chính cực đại trên ứng suất đứng dao động từ 2,2 ở độ sâu 100 mét đến 1,9 ở độ sâu 160 mét. Độ chính xác của mô hình số được hiệu chỉnh và kiểm chứng đối chứng trực tiếp với dữ liệu chuyển vị quan trắc bằng hệ thống lăng kính thủy tinh ngoài hiện trường trong suốt tiến trình thi công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số và dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra ba phát hiện quan trọng về trạng thái biến dạng và độ ổn định của hầm chứa:

Thứ nhất, việc áp dụng hệ thống gia cố tiêu chuẩn từ biểu đồ kinh nghiệm Q-chart không đảm bảo an toàn bền vững cho các đoạn hầm có chất lượng đá trung bình. Tại mặt gương khảo sát ở lý trình 171,0 mét thuộc đoạn hầm từ 168,0 đến 180,0 mét có chất lượng đá loại Khá, kết quả mô phỏng cho thấy chuyển vị thẳng đứng thực tế tại đỉnh vòm lệch 30 mm và tại vai hầm lệch 25 mm so với ngưỡng tính toán theo biểu đồ Q. Điều này chứng minh giải pháp kinh nghiệm thuần túy có xu hướng đánh giá thấp biến dạng thực tế của các hầm ngầm khẩu độ rộng 20 mét.

Thứ hai, tiến trình dịch chuyển của khối đá diễn ra bất đối xứng và phân hóa rõ rệt qua từng giai đoạn khai đào. Giai đoạn đào vòm đỉnh chịu trách nhiệm cho khoảng 90% tổng biến dạng lún đứng của đỉnh hầm, với độ lún ban đầu lên tới 45 mm. Khi triển khai hệ thống gia cố tăng cường gồm bu lông neo dài 4,8 mét và lớp bê tông cốt thép dày 0,1 mét, độ lún đỉnh vòm giảm xuống còn 21 mm, tương ứng mức giảm 53,3%. Ngược lại, quá trình đào tầng giữa và tầng đáy làm gia tăng đáng kể độ dạt ngang của vách hầm và gây ra hiện tượng trồi đáy nghiêm trọng với độ nâng thẳng đứng tại tâm đáy hầm đạt 77,5 mm trước khi gia cố và 77,0 mm sau khi gia cố.

Thứ ba, trạng thái ứng suất khi chuyển sang giai đoạn lưu trữ chất lưu vẫn duy trì độ an toàn cao nhưng xuất hiện các điểm tập trung biến dạng cục bộ. Khi lưu chứa khí thiên nhiên hóa lỏng với tỷ trọng 450 kg/m³, độ lún đỉnh hầm ghi nhận ở mức 22,5 mm và độ nâng đáy là 63,0 mm. Khi chuyển sang lưu chứa dầu thô có tỷ trọng 800 kg/m³, độ lún đỉnh hầm đạt 25,0 mm, độ nâng đáy đạt 60,0 mm, trong khi vách tường bên trái có độ dịch chuyển ngang ổn định từ 51,0 đến 57,0 mm.

Thảo luận kết quả

Sự sai lệch giữa kết quả phân tích số và công thức kinh nghiệm xuất phát từ việc biểu đồ Q-chart chưa xét đến tác động của lớp đất đá phủ sâu trên 100 mét và sự phân bố bất đối xứng của trường ứng suất kiến tạo ngang. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ phân tán bốn vùng đánh giá, trong đó trục hoành thể hiện độ lớn chuyển vị tổng hợp phương ngang và đứng, trục tung thể hiện hệ số an toàn Strength Factor. Biểu đồ này chia không gian làm việc của kết cấu thành bốn trạng thái: Rất ổn định (Strength Factor lớn hơn 1, chuyển vị nhỏ), Ổn định, Cần chú ý và Nguy hiểm.

Bảng tổng hợp tham số vật liệu và biểu đồ ứng suất cắt khẳng định rằng việc bổ sung lớp lót bê tông cốt thép có mô đun đàn hồi 20.000 MPa kết hợp mạng bu lông neo cự ly 2,5 mét đã dịch chuyển toàn bộ 40 điểm kiểm soát xung quanh biên hầm từ vùng Nguy hiểm sang vùng Rất ổn định và Ổn định. Trong giai đoạn lưu trữ chất lưu, mặc dù phần lớn các điểm đều an toàn với hệ số bền vượt ngưỡng 1,0, vẫn có 3 vị trí nhạy cảm cần giám sát đặc biệt gồm: tâm đỉnh vòm, điểm vách phải ở độ cao 16,0 mét và điểm vách phải ở độ cao 18,5 mét tính từ đáy hầm do ảnh hưởng của sự tập trung ứng suất tiếp xúc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công tác thiết kế, thi công và vận hành hầm lưu chứa hydrocarbon ngầm, nghiên cứu đưa ra bốn khuyến nghị cụ thể:

  1. Áp dụng hệ thống gia cố tăng cường đa lớp cho các đoạn địa chất yếu: Ban quản lý dự án và các kỹ sư kết cấu cần chỉ định thi công mạng bu lông neo đá có chiều dài tối thiểu 4,8 mét, khoảng cách lưới 2,5 mét kết hợp phun phủ lớp bê tông cốt thép dày 0,1 mét với cường độ nén 50 MPa ngay sau khi kết thúc bước đào vòm đỉnh nhằm khống chế độ lún vòm dưới 25 mm và nâng hệ số Strength Factor toàn diện lên trên 1,0 trong vòng 24 đến 48 giờ sau nổ mìn.

  2. Thiết lập quy trình quan trắc chuyển vị tự động theo thời gian thực: Nhà thầu thi công cần lắp đặt hệ thống cảm biến quang học lăng kính thủy tinh tại ít nhất 40 điểm kiểm soát quanh chu vi hầm, tập trung vào khu vực đỉnh hòm và đáy hầm với tần suất đo 2 lần mỗi ngày. Cần kích hoạt quy trình cảnh báo mức độ 1 khi độ trồi đáy vượt ngưỡng 65 mm hoặc chuyển vị ngang thành vách vượt quá 55 mm.

  3. Kiểm soát nghiêm ngặt cột áp thủy lực của hệ thống màn nước: Đơn vị vận hành công trình ngầm phải liên tục duy trì áp lực nước ngầm tại hệ thống hầm màn nước ở độ sâu 100 mét cao hơn áp suất lưu trữ hydrocarbon bên trong hầm ở độ sâu 132 mét tối thiểu từ 15% đến 20%, đảm bảo thế năng thủy lực ngăn chặn triệt để sự thấm thoát chất lưu qua các hệ thống khe nứt đá.

  4. Nâng cấp công cụ mô phỏng số sang phân tích tương tác chất lưu - kết cấu ba chiều: Các viện nghiên cứu và đơn vị tư vấn thiết kế cần chuyển đổi từ phần mềm địa kỹ thuật thuần túy sang các giải pháp phần mềm chuyên dụng về cơ lưu chất và truyền nhiệt đa pha để mô phỏng chính xác sự co ngót của khối đá dưới tác động nhiệt độ âm 162 độ C của khí thiên nhiên hóa lỏng trong các giai đoạn nghiên cứu khả thi tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Kỹ sư địa kỹ thuật và công trình ngầm: Nắm vững quy trình phân tích ngược, phương pháp xác định thông số cơ học khối đá từ tiêu chuẩn Hoek-Brown và kỹ thuật thiết lập mô hình số hai chiều trên Phase 2 để ứng dụng trực tiếp vào tính toán thiết kế hầm giao thông, hầm thủy điện và hang ngầm khai thác mỏ có khẩu độ lớn trên 15 mét.

  2. Chuyên gia quản lý và quy hoạch dự án dầu khí: Tiếp cận phương pháp luận đánh giá an toàn công trình lưu trữ năng lượng dưới lòng đất, phục vụ công tác lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi cho các kho ngầm dự trữ chiến lược quốc gia tại khu vực Nghi Sơn, Dung Quất và Long Sơn.

  3. Đơn vị tư vấn giám sát và nhà thầu thi công hầm: Áp dụng biểu đồ bốn vùng đánh giá ổn định để kiểm soát chất lượng gia cố vách hầm, lựa chọn thông số bu lông neo và bê tông lót tối ưu, đồng thời xây dựng quy trình ứng phó rủi ro khi xuất hiện hiện tượng trồi đáy hoặc lún đỉnh vượt ngưỡng thiết kế.

  4. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kỹ thuật Địa chất: Kế thừa khung lý thuyết tích hợp giữa phân loại Q-system, GSI và mô hình số phân tử hữu hạn để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tương tác nhiệt - thủy - cơ trong môi trường đá nứt nẻ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao không thể sử dụng trực tiếp kết quả gia cố từ biểu đồ Q-chart của Barton cho hầm chứa khẩu độ lớn? Biểu đồ Q-chart được xây dựng trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm của các đường hầm thông thường và không tính toán đầy đủ các yếu tố ứng suất kiến tạo ngang cục bộ cùng chiều sâu chôn lớn trên 100 mét. Đối với hầm rộng 20 mét và cao 27 mét, Q-chart chỉ đóng vai trò là giải pháp hỗ trợ tối thiểu và cần được kiểm chứng bằng mô phỏng số để tránh sai lệch chuyển vị lên tới 30 mm.

  2. Tiêu chuẩn phá hoại Hoek-Brown tổng quát có ưu điểm gì so với tiêu chuẩn Mohr-Coulomb trong mô phỏng khối đá? Tiêu chuẩn Hoek-Brown mô tả chính xác ứng xử phi tuyến của khối đá tự nhiên bị nứt nẻ thông qua việc tích hợp chỉ số GSI và mức độ xáo trộn nổ mìn D. Điều này phản ánh đúng sự suy giảm cường độ kháng kéo và kháng cắt khi khối đá bị dỡ tải trong quá trình khai đào, vượt trội hơn quan hệ tuyến tính của Mohr-Coulomb.

  3. Hiện tượng trồi đáy hầm lên tới 77,5 mm xuất phát từ nguyên nhân nào và có nguy hiểm không? Hiện tượng trồi đáy hình thành do sự giải phóng ứng suất đứng kết hợp với ứng suất ngang nguyên thủy có tỷ số lớn hơn 2,0 ép mạnh vào chân vách hầm chưa được lắp đặt kết cấu vòm ngược. Dù chưa vượt ngưỡng phá hủy hoàn toàn, hiện tượng này cần được kiểm soát để tránh nứt gãy cục bộ và hư hại đáy hầm khi tích trữ chất lưu.

  4. Nguyên lý màn nước thủy lực tại dự án Hầm chứa Jurong vận hành như thế nào? Hệ thống màn nước gồm các hầm dẫn nước ở độ sâu 100 mét bơm nước liên tục vào các lỗ khoan xung quanh khối đá nhằm tạo ra một vùng áp lực nước cao hơn áp suất chất lưu bên trong hầm ở độ sâu 132 mét. Chênh lệch thế năng thủy lực này buộc dòng nước luôn có xu hướng chảy ngược vào trong hầm, ngăn hydrocarbon thẩm thấu ra môi trường.

  5. Nghiên cứu này đóng góp những gì cho các dự án kho ngầm năng lượng tương lai tại Việt Nam? Nghiên cứu cung cấp một quy trình tính toán chuẩn mực từ khâu xử lý dữ liệu thí nghiệm cơ lý đến mô phỏng số phân tầng và tối ưu hóa hệ thống gia cố. Quy trình này giúp các đơn vị thiết kế trong nước chủ động đánh giá độ ổn định của các kho ngầm LNG và dầu thô tại các vùng địa chất phức tạp mà không hoàn toàn phụ thuộc vào tư vấn nước ngoài.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn bài toán cơ học công trình ngầm thông qua việc xây dựng quy trình dự đoán chuyển vị và đánh giá độ ổn định cho hầm chứa hydrocarbon khẩu độ lớn:

  • Xác lập bộ thông số cường độ khối đá đáng tin cậy dựa trên 84 mẫu thí nghiệm nén ba trục kết hợp tiêu chuẩn Hoek-Brown tổng quát cho hệ tầng trầm tích Jurong.
  • Chứng minh tính bất cập của phương pháp kinh nghiệm Q-chart khi để xảy ra độ lệch chuyển vị đỉnh vòm lên tới 30 mm và xác định đoạn hầm từ 168,0 đến 180,0 mét là khu vực rủi ro cao nhất.
  • Đề xuất giải pháp gia cố tối ưu bằng mạng bu lông neo dài 4,8 mét, cự ly 2,5 mét kết hợp bê tông cốt thép dày 0,1 mét, giúp giảm hơn 53% chuyển vị đỉnh vòm và đưa toàn bộ kết cấu về trạng thái an toàn.
  • Đánh giá thành công trạng thái ổn định của công trình khi lưu chứa hai loại chất lưu với tỷ trọng 450 kg/m³ và 800 kg/m³, xác định chính xác các điểm nhạy cảm cần quan trắc tại vách phải và vòm hầm.
  • Xây dựng biểu đồ đánh giá an toàn đa tiêu chí kết hợp giữa chuyển vị cho phép và hệ số Strength Factor, tạo tiền đề vững chắc cho việc áp dụng vào các dự án hầm ngầm năng lượng trọng điểm tại Việt Nam.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2024 đến 2026, các nghiên cứu mở rộng cần tập trung vào mô hình hóa ba chiều có xét đến tác động của áp lực nước ngầm động lực học và tải trọng địa chấn. Các kỹ sư và nhà quản lý dự án quan tâm đến việc ứng dụng giải pháp thiết kế hầm ngầm có thể liên hệ hợp tác và khai thác chi tiết bộ dữ liệu mô phỏng để tối ưu hóa an toàn công trình.