phần mở đầu bài Kim cương tam muội kinh chú giải, Trần Thái Tông đã khăng định bản tính của con người vốn diệu trạm, chân tâm hằng trong lặng: “AAR, BOER.” (Ban tính sâu tram; chân tâm trong lang. dao tuc san bang. 16 Sừng sững riêng mình; cao siêu có một. Đó là dòng sông trọng yếu của tự tính kim cương vậy) [94, tr.
Nhung, do vô minh, vọng tưởng che lắp nên con người chưa phát minh ra nó và cam chịu lang thang trong sáu nẻo luân hồi. Tuy nhiên, nếu dùng tình thức tìm nó thi không những không thấy được mối manh, mà còn xa cách ngàn trùng. Tu đạo là quay về trực nhận lại chân tâm thanh tinh, tự tính kim cương này chứ chang có gì khác. Vì vậy, kinh Kim cương tam muội là chỗ y cứ dé giải thích vì sao Thiền tông có thé đưa con người tới sự giác ngộ và ai cũng đều có khả năng này một cách bình dang.
Nhìn chung, quan niệm Phật tại tâm là quan điểm nhất quán của Phật giáo Đại thừa cũng như của các tông phái Thiền trước đây. Tuy nhiên, ở Tuệ Trung Thượng sĩ, quan niệm này càng trở nên phóng khoáng và được phát huy một cách mạnh mẽ. Theo Thượng sĩ, bổn phận của người tu là soi sáng lại chính mình, chăng thê tìm Phật từ bên ngoài: “Phản quan tự kỷ bản phận sự, bắt tùng tha đắc ” [89, tr. Đây là bổn phận của người tu thiền, là tông chỉ của Thiền môn.
Từ Phật giáo Nguyên thủy đến Phật giáo Phát triển, thì phận sự gốc của người tu vẫn là chiếu soi lại thân tâm mình, không thể hướng ngoại mà cầu được. Như vậy, người học không thê đi tìm Phật ở bên ngoài. Muốn Phật hiện tiền, hành giả phải ngay nơi tâm mình, hồi quang phản chiếu, khi ấy mới hay tâm mình là Phật. Tư tưởng này được Sơ tổ Trúc Lâm đón nhận từ Tuệ Trung Thượng sĩ và sau này ngài đã triển khai rất sâu rộng.
Đây chính là “tông chỉ của của PGTL”. Hơn nữa, Trần Thái Tông cho rằng người học đạo cốt mong kiến tính (tức thấy Phật tính): “k##:ä> ^. Quan điểm đó đã trở thành nền tảng tư tưởng của TPTL sau này. Vì vậy, Sơ tổ Trần Nhân Tông thường khai thị rằng Phật ở ngay tâm minh, chăng phải tìm đâu: “32 3* # 35, È ï? 48.
Ai cũng có sẵn Phật tính giống đức Phật và đều hàm chứa năng lực thành Phật. Nhưng chỉ vì con người quên mat bản tâm nên mới trôi lăn trong luân hồi, sinh tử. Đến khi đạt đạo mới biết chính mình là Phật. Theo đó, người học đạo tìm Phật tức là tìm lại bản tâm mình, thể nhập tự tính của chính mình chứ không có gì khác.
17 Chính Nhị tô Pháp Loa cũng nhắn mạnh: “& ##> ii, F078 HUE. Điều này cho thấy quan điểm nhất quán của TPTL là người học đạo phải thấy được tự tính nơi chính mình. Vì vậy, TPTL thường chỉ thăng tâm bản nhiên thanh tịnh của mỗi người. Ở đâu có con người thì ở đó có nguồn gốc của thiền, của giác ngộ, của năng lực thành Phật.
Như vậy, quan điểm Phật tai tâm được xác quyết rất rõ ràng và trở thành tư tưởng xuyên suốt của PGTLTT. Đó chính là giá trị nhân văn cao nhất mà PGTLTT đã cống hiến cho đời. Quan điểm về Phật như thế sẽ tạo cho con người một lý tưởng sống cao đẹp, một cảm hứng sáng tạo vươn lên cho đến ngày thành Phật. Vì vậy, dù ở giữa phố thị phén hoa hay ấn minh nơi thâm sơn, cùng cốc thì con người vẫn an vui với đạo được.
Họ có thể tự tại và tùy duyên làm lợi ích cho đời, mà không chống trái với đời. Đây chính là tư tưởng Cư tran lạc đạo và tinh thần ty duyên phóng khoáng của Thiền phái. Quan điểm này đã đi vào thực tiễn và trở thành tư tưởng chính của TPTL cũng như PGTLTT. Tư tưởng cư trần lạc đạo Tư tưởng này được nhiều kinh điển Đại thừa dé cập, đặc biệt là kinh Hoa nghiêm với thuyết “sự sự vô ngại pháp giới ”.
Sơ t6 Trúc Lâm đã kế thừa tư tưởng này và triển khai thành “tr tưởng cư tran lạc đạo ”. Có thé khang định “cw tran lac dao” của Sơ Tổ Trúc Lâm là sự đúc kết từ tiễn trình vận động, chuyền biến tư tưởng của chư vị cao đức tiền bối: “.các nhà tư tưởng Thiên phái đã có cả quá trình hoạt động và đúc kết từ thực tiễn trong tiễn trình hình thành tư tưởng Cu tran lạc đạo di từ tùy tục của Thường Chiếu (đời Lý), rồi đến biện tâm của Trần Thái Tông, chuyển qua hòa quang dong tran của Thượng sĩ, sau cùng là tùy duyên lạc đạo của Tran Nhân Tong. Theo đó, người học đạo thể chứng Phật tính và tự tại giải thoát ngay giữa cuộc đời, đồng thời làm đẹp cho đời với tinh thần “hòa quang đồng trần”. Nói cách khác, người học đạo tuy sống giữa cuộc đời mà vẫn an vui với đạo, tùy thuận Phật tính dé làm lợi ích cho đời.
Đây chính là tinh thần tùy duyên bat biến, bat biến tùy duyên của đạo Phật. Do vậy, Sơ tô đã trước tác Cư tran lạc đạo phú. Gia tri lý luận của tác phẩm này trở thành hệ tư tưởng chính cho TPTL. Đặc biệt, bài kệ kết thúc tác phâm thâu tóm toàn bộ tư tưởng của Thiền phái: 18 “# fe we tá BORA RR, (Ở đời vui dao hãy tuÈ duyên, eB) AS AB AR.
Doi đến thì ăn, mệt ngủ liên. % †' #4 %1k3 Ế, Báu sẵn trong nhà thôi tìm kiếm at 4 fe s seeD BỊ B Vô0 tâm trước tâm tr nh, hỏihỏi gì thiên) cảnh, ước cả [94, tr.] thiên) [94, Tinh thần bài kệ này là tôn chỉ của Sơ tổ nhưng cũng là tư tưởng nhất quán của TPTL. Đó là, hãy sống hòa mình với đời, tùy duyên mà vẫn an vui với đạo sẵn có nơi mình, không nên chấp mắc vì mọi việc đều có nhân duyên của nó: “Hanh động tùy duyên, tức là làm việc can làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên” [50, tr. Hơn nữa, do mỗi người đều sẵn có Phật tính, nên hãy tự tin vào khả năng vươn lên của mình, chớ hướng ngoại vọng cau.
Như vậy, tw tưởng cư tran lạc đạo đã trở thành tư tưởng xuyên suốt của PGTL. Theo đó, người học đạo không cần phải lên non thiêng Yên Tử hay ngọn núi Tây Thiên dé cầu sự giác ngộ. Sự giác ngộ hiện hữu giữa lòng thế tục, ở ngay nơi đời. Ngay giữa cuộc đời, người học đạo chỉ cần dừng hết tham sân, dứt trừ nhân ngã, tùy duyên theo sự phân công của xã hội mà van an vui với đạo: “As AAR, HFFA EE 4a SA), eR A, WEF BSE.
Mặc dù vậy, Trần Nhân Tông không phủ nhận cuộc song thanh tinh, ân cu nơi rừng núi dé chuyên tâm tu đạo. Chính ngài đã phát nguyện tu hạnh đầu da, nhiều lần vào núi Yên Tử, Vũ Lâm để tĩnh tu. Tuy nhiên, người học đạo không nên câu chap núi rừng hay phố thi, ở đâu cũng có thé tu hành. Ngay giữa cuộc đời ué trược mà giác ngộ được thì thật đáng quí.
Ngoài ra, nếu người học đạo tu nhân, tích đức, giữ giới hạnh, đoạn ghen tham thì sẽ là Phật hóa hiện tại thé gian: “3| Af& > †1#‡#jš. Vì thế, ai cũng có thể là Phật Thích Ca, Di Lặc, dù xuất gia hay tại gia, dù ở núi hay giữa kinh thành. Chính quan điểm này đã củng cô niềm tin, tiếp thêm sức mạnh về khả năng chuyên hóa, cống hiến cho đời của người học Phật. Đây chính là “tr tưởng tùy duyên ” của PGTL.
Tinh thần Tùy duyên 19 Nhân duyên qua là giáo ly căn ban cua Phật giáo. Chính đức Phat Thích Ca đã giác ngộ được đạo lý này sau bốn mươi chín ngày tư duy thiền quán dưới cội cây b6-dé. Trên cơ sở nguyên lý nhân duyên quả đó, các tông phái Phật giáo, đặc biệt là Thiền tông đã triển khai thành “tinh thần tùy duyên ” dé người tu học dan thân độ đời mà vẫn an vui với đạo. Đối với PGTL, tinh than ty duyên trở thành một tư tưởng căn bản, đặc trưng của Thiền phái.
Tinh thần này được thé hiện rất rõ nét trong thơ Thiền Tuệ Trung: “RE BRA R/ & 3 &2ñ 3e.” (Hàn tự trước y nhiệt thoát y/ Vô hàn vô nhiệt hữu thùy tri. Thuong sĩ cho rằng khi lạnh thì hãy mặc áo, còn khi nực có thé cởi ra tùy theo thời tiết. Tuy nhiên, đây là cách nói ân dụ dé hàm chỉ triết lý tùy duyên rất sâu sắc. Đến nơi nào thì tùy thuận nơi đó nhưng không đánh mat bản chất.
Sống là tùy duyên, không ngần ngại cũng không chống trái. Theo đó, người hiểu đạo không cầu sống vinh cũng không sợ sống nhục, tùy duyên tiêu dao mà an vui với đạo. Quan điểm này đã được Sơ tô Trúc Lâm kế thừa và phát huy thành tr /zởng Cư tran lạc dao của PGTL. Theo Sơ tô, ngay giữa cuộc đời trần tục mà người học đạo biết áp dụng lời Phật dạy, làm đẹp cho đời thì phúc ấy là rất lớn, rất quí: “ƑŠ Ye Wi, 7% BIBER HER, ARS AD.
Chính từ quan điểm này đã hình thành nên mẫu người Phật tử tại vương triều nhà Trần biết dem đạo ứng dụng vào đời dé giúp đời; điển hình là vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, Tuệ Trung thượng sĩ và nhiều quí tộc nhà Trần khác. Không chỉ dành riêng cho Phật tử, mẫu hình này còn trở thành hình mẫu tiêu biểu cho người dân Đại Việt trong thời đại Đông A: “Hình tượng này là tiêu biểu cho mẫu người Đại Việt thời đại Đông A nói chung, chứ không phải riêng gì cho Phật giáo ” [8, tr. Cũng chính “tinh thần tuỳ duyên” này đã góp phan quan trọng giúp nhà Trần phát huy được sức mạnh nội lực, cố kết lòng dân, bảo vệ vững chắc tổ quốc trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược. Như vậy, “tinh thần tùy duyên” đã đi vào thực tiễn và được phát huy mạnh 20 mẽ trong tư tưởng của PGTL TT.
Có thé nói “tinh than tùy duyên ” nay cùng với “tw tưởng Phật tai tam, tu tưởng cư tran lạc dao” đã tạo nên nét đặc sắc của PGTLTT. Hơn nữa, nó còn góp phan quan trong tác thành hào khí Đông A bắt hủ trong dong chảy lịch sử của dân tộc. Vì vậy, Phật giáo thời Trần phát triển rực rỡ, trở thành điểm tựa vững chắc cho quốc gia Đại Việt và đã dé lại rất nhiều di sản cho các thé hệ sau kế thừa.