phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, gồm có hai chương và tám tiết. 9 CHƢƠNG 1 KHÁI NIỆM ĐỜI SỐNG TINH THẦN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CỘNG ĐỒNG CƢ DÂN ĐBSCL HIỆN NAY 1. Khái niệm đời sống tinh thần Đời sống tinh thần là một khái niệm hết sức quan trọng trong hệ thống các khái niệm nói chung. Đồng thời, đời sống tinh thần cũng là một trong những lĩnh vực quan trọng và cơ bản của đời sống xã hội.
Đời sống tinh thần là khái niệm ghép giữa hai khái niệm “đời sống” và “tinh thần”. Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên, thì khái niệm đời sống được diễn giải như sau: 1. Sự sinh sống, hoạt động diễn ra trong cơ thể một sinh vât, đời sống con người, đời sống cây trồng. Hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung: Đời sống riêng, đời sống tinh thần.
Lối sống, điều kiện sống, sinh hoạt của con người, xã hội: đời sống cán bộ, công nhân viên, đời sống xa hoa [111, 670]. Trong từ điển tường giải liên tưởng Tiếng Việt do Nguyễn Văn Đạm chủ biên cũng giải thích khái niệm “đời sống” theo 3 nghĩa như trên: 1. Hoạt động về nhiều mặt (vật chất, tinh thần…) của một xã hội, một cá nhân. Đời sống tình cảm.
Toàn thể những hiện tượng xảy ra trong cơ thể sinh vật (lớn lên, trao đổi chất với môi trường, sinh sản) từ khi sinh ra đến chết. Số lượng và mức độ thuận lợi của các phương tiện phục vụ việc ăn, ở, đi lại, giải trí, chữa bệnh của những gì phục vụ sự sống của con người của con người [111, 312-313]. Như vậy, khái niệm đời sống có thể được sử dụng chỉ hoạt động sinh học, nhưng cũng chỉ hoạt động và điều kiện sinh hoạt xã hội của con 10 người. Và đời sống tinh thần là hoạt động riêng có của con người thuộc hoạt động xã hội của con người.
Khái niệm “tinh thần” theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin thì đó là những khái niệm dùng để chỉ những đặc tính chung thuộc ý thức, tư duy, tư tưởng, tâm lý của con người. Tinh thần theo quan điểm của triết học Mác – Lênin là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao đó chính là bộ óc của con người, là “hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan”. Trong từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa tinh thần: là cái“đối lập với phạm trù vật chất, tuy rất gắn bó với vật chất, nói lên một phương thức tồn tại của đối tượng được phản ánh trong tâm lý con người, là chức năng của vật chất có tổ chức cao, là kết quả phản ánh thực tiễn. Với tư cách là những hình tượng cảm tính và lí tính, tinh thần mang trong nó đặc điểm lịch sử - xã hội của con người.
Về nguồn gốc, ban đầu tinh thần chỉ là sự phản ánh của vật chất, tuy nhiên tinh thần có tính độc lập tương đối của nó và trở thành nguồn độc lập tích cực, quyết định đối với hoạt động sống của con người và của cộng đồng, xã hội. Nhờ có tinh thần, con người chẳng những có thể phản ánh hiện thực, mà còn có thể cải tiến hiện thực trong ý thức mình cũng như trong thực tế, ảnh hưởng tích cực đến tồn tại xã hội, đến hoạt động thực tiễn của con người [67]. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng tinh thần là chức năng của loại vật chất đặc biệt, có tổ chức cao, là kết quả của hoạt động vật chất, lịch sử xã hội con người. Đời sống tinh thần của xã hội phản ánh điều kiện sinh sống vật chất của xã hội và tác động trở lại đời sống xã hội và hoạt động thực tiễn của con người.
Tính khoa học trong nội dung khái niệm tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. 11 Yếu tố quan trọng của khái niệm này không chỉ dừng lại ở việc khẳng định tinh thần là cái phụ thuộc vào vật chất, là cái thứ hai, mà quan trọng hơn, tinh thần là sự phản ánh mang tính tích cực, năng động và sáng tạo của bộ óc con người về hiện thực khách quan. Quan điểm biện chứng trên đây về “đời sống” và “tinh thần” là cơ sở lý luận khoa học cho việc tìm hiểu một cách đúng đắn phạm trù đời sống tinh thần của con người. Trước khi làm rõ khái niệm về đời sống tinh thần xã hội nói chung, chúng ta cần làm rõ mối tương quan giữa đời sống tinh thần với ý thức xã hội và với văn hóa tinh thần.
Bàn về đời sống tinh thần với ý thức xã hội tồn tại hai quan điểm chính. Một số nhà nghiên cứu đồng nhất khái niệm đời sống tinh thần xã hội và ý thức xã hội, một số khác lại cho rằng khái niệm đời sống tinh thần rộng hơn khái niệm ý thức xã hội. Tiến sĩ Đào Duy Thanh cho rằng: “Ý thức xã hội – khía cạnh phản ánh, là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định nội dung cơ bản của đời sống tinh thần xã hội. Bởi vì, nó cùng cấp độ bản chất với đời sống tinh thần xã hội, đều là sự phản ánh và bị quy định bởi đời sống vật chất của xã hội.
Theo định nghĩa chung nhất, đời sống vật chất của xã hội là những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, hoạt động vật chất của con người và các quy luật khách quan vốn có của nó. Nếu ý thức xã hội bao gồm tình cảm, tư tưởng, quan niệm, lý thuyết… thì đời sống tinh thần xã hội ở khía cạnh phản ánh cũng là những hiện tượng tinh thần như vậy. Điều đó có nghĩa là ý thức xã hội, đời sống tinh thần xã hội là tất cả những gì thuộc về cái tinh thần xã hội, là cái phi vật chất, là cái phụ thuộc và bị qui định bởi đời sống vật chất xã hội. Tuy vậy, ý thức xã hội theo 12 chúng tôi có nội dung hẹp hơn (dù là tương đối) so với đời sống tinh thần xã hội” [72, 19].
Trong khi đó, theo Tiến sĩ Trần Khắc Việt trong luận án tiến sĩ của mình cho rằng không thể đồng nhất đời sống tinh thần và ý thức xã hội, bởi theo tác giả “ý thức xã hội thuộc đời sống tinh thần của xã hội cũng tức là một bộ phận của đời sống tinh thần chứ không đồng nhất với đời sống tinh thần. Ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội, trong mối quan hệ với mặt đối lập với nó là tồn tại xã hội, còn đời sống tinh thần là phạm trù đối lập với đời sống vật chất và đời sống chính trị của xã hội. Ý thức xã hội là sự phản ánh kết quả, sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người, còn đời sống tinh thần bao hàm toàn bộ quá trình sản xuất, bảo quản, phổ biến, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các giá trị tinh thần. Những tư tưởng, quan điểm, quan niệm và các sản phẩm tinh thần khác – tức ý thức xã hội chỉ là một mặt (mặt thành tạo) của đời sống tinh thần [106, 10-11].
Chúng ta biết rằng, ý thức xã hội dùng để chỉ mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng… của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ảnh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Rõ ràng, về bản chất, khái niệm đời sống tinh thần và ý thức xã hội là cùng cấp độ; chúng đều chỉ sự phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Tuy nhiên, nói đến ý thức xã hội là đã trừu tượng hóa tất cả các mặt, các mối liên hệ phong phú của xã hội, chỉ còn lại mối quan hệ cơ bản nhất là quan hệ giữa ý thức với tính cách là cái phản ánh và tồn tại xã hội với tính cách là cái được phản ánh. Còn nói đến đời sống tinh thần là nói đến toàn bộ quá trình hoạt động ý thức, nhu cầu và hoạt động sáng tạo, lưu giữ, truyền bá, tiếp thu, cải biến, sử dụng các sản phẩm tinh thần.
Nó giúp chúng 13 ta hiểu được sự phong phú, đa dạng của đời sống con người. Do đó, khái niệm đời sống tinh thần rộng hơn khái niệm ý thức xã hội. Có thể nói, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về đời sống tinh thần, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề này có lẽ bởi sự đa dạng, phức tạp của vấn đề đời sống và hoạt động tinh thần của xã hội và con người. - Phân biệt đời sống tinh thần và văn hóa tinh thần.
Một hướng tìm tòi khác của các nhà nghiên cứu là xem xét giữa văn hóa tinh thần và đời sống tinh thần khái niệm nào rộng hơn, khái niệm nào trùm lên khái niệm nào. Có một số công trình nghiên cứu đồng nhất giữa đời sống tinh thần và văn hóa tinh thần, có người lại quan niệm khái niệm đời sống tinh thần rộng hơn khái niệm văn hóa tinh thần.Văn hóa tinh thần được định nghĩa là toàn bộ những giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động trên lĩnh vực tinh thần. Rõ ràng, nếu hiểu văn hóa là hoạt động của con người thì thời đời sống tinh thần và văn hóa tinh thần là đồng nhất với nhau. Nhưng nếu xét về mặt giá trị thì văn hóa tinh thần là biểu hiện về mặt chất lượng của đời sống tinh thần, nghĩa là chỉ có những hiện tượng tinh thần tiến bộ mới được xem là văn hóa tinh thần.
Chúng ta có thể nói đến văn hóa của sản xuất tinh thần, văn hóa của việc tiêu dùng, đào tạo, văn hóa thẩm mỹ, nghệ thuật… Mỗi lĩnh vực của đời sống tinh thần đều phải có những biểu hiện đặc trưng của chất lượng đời sống tinh tinh thần của xã hội nói chung. Tóm lại thì đời sống tinh thần và văn hóa tinh thần có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là mối quan hệ giữa quá trình hoạt động tinh thần và chất lượng đạt tới của quá trình đó là văn hóa tinh thần. Khi nghiên cứu về đời sống tinh thần, cũng cần phân biệt giữa đời sống tinh thần xã hội với đời sống tinh thần cá nhân.