MỞ ĐẦU 2 1.1 Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, tình hình thiên tai thường xuyên xảy ra ở các địa phương trên toàn quốc, với quy mô không lớn nhưng diễn biến rất phức tạp. Đặc biệt là hiện tượng sạt lở đất, đá, lũ quét xảy ra gây tổn thất nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường sinh thái. Theo số liệu thống kê, từ năm 2000 đến 2014 đã xảy ra 250 đợt lũ quét, sạt lở ảnh hưởng tới các vùng dân cư, làm chết và mất tích 646 người, bị thương gần 351 người; hơn 9.700 căn nhà bị đổ trôi; hơn 100.000 căn nhà bị ngập, hư hại nặng; hơn 75.000 ha lúa và hoa màu bị ngập; hàng trăm ha đất canh tác bị vùi lấp; nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, dân sinh kinh tế bị hư hỏng nặng nề, tổng thiệt hại ước tính trên 3. Trong Luật sửa đổi 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014), đáng chú ý là Điều 65, Chương 6 Nhà nước cụ thể quy định thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm:“đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người”.
Thực tế này đã cho thấy hiện tượng sụt lún, sạt lở đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng tại nhiều nơi, đòi hỏi công tác di dời, hỗ trợ tái định canh, định cư cho các hộ ở trong khu vực bị ảnh hưởng là rất cần thiết và cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho người dân ổn định đời sống và sản xuất. Tại Phú Yên, tình trạng sạt lở đất đá ở khu vực núi Nhạn thuộc thành phố Tuy Hòa đã xuất hiện từ nhiều năm nay, nguyên nhân được xác định là do mưa lũ lớn, nước trên núi chảy xuống kéo theo đất đá đổ tràn vào nhà dân. Thống kê từ trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Tuy Hòa, từ năm 2007 đến 2013 các vụ sạt lở đã làm 67 căn nhà bị sập hoàn toàn, hơn 54 căn nhà bị ảnh hưởng, 2 người chết và 13 người bị thương. Trước tình hình này, UBND thành phố Tuy Hòa phối hợp với các đơn vị khảo sát, lập phương án di dời các hộ bị ảnh hưởng nặng đến khu tái định cư trên địa bàn thành phố Tuy Hòa [76].
Theo đó, dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng sạt lở núi Nhạn được tiến hành để đảm bảo an toàn và ổn định đời sống cho người dân. Đồng thời, thực hiện tái định cư cho các hộ bị ảnh hưởng theo 3 chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra: “đảm bảo cho người dân có cuộc sống ở nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” [66]. Tuy nhiên, sau khi tái định cư, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn về việc làm, thu nhập và các điều kiện sống khác. Nguyên nhân các mặt hạn chế này đã đặt ra nhiều vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng ở cả hai mặt khách quan và chủ quan để tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống của người dân, từ đó có những giải pháp khắc phục phù hợp.
Chính vì tính cấp thiết của những vấn đề nêu trên đã thúc đẩy tác giả thực hiện đề tài nhằm tìm hiểu “Đời sống của người dân thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên (Dự án di dời các hộ có nguy cơ ảnh hưởng sạt lở núi Nhạn, phường 1, Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên).2 Tổng quan tài liệu Trong phần này, tác giả sẽ trình bày tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu trong nước.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Khi thu hồi đất, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; hai là, giá đất tiêu chuẩn; ba là, trợ cấp về giá cả. Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở. Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá. Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do: thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư.
Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh. Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư. Thứ ba, quyền 4 sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn. Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng [78].
Để giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong quá trình đô thị hóa, Trung Quốc đã tập trung thực hiện một số biện pháp sau: [6] Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động: Các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa. Chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương, góp phần giảm sức ép về việc làm ở đô thị. Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào thành phố lớn: Theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế Trung Quốc, lợi thế của đô thị nhỏ trong việc thu hút các lao động dư thừa ở nông thôn là: - Các đô thị nhỏ có nhiều cơ hội việc làm, bởi các đô thị này có dân số ít, những ngành công nghiệp mới sẽ có khả năng thu hút nhiều lao động hơn. - Những đô thị nhỏ nằm giữa các thành phố và khu vực nông thôn sẽ đem lại cho nó những đặc trưng về lối sống của cả hai khu vực, nên những người nông dân dễ dàng định cư hơn ở các thành phố lớn.
Các chi phí ở đây cũng thấp hơn các thành phố lớn. - Ở các đô thị nhỏ, người nông dân dễ dàng hơn trong việc kinh doanh, vì ở đây có điều kiện cạnh tranh thấp hơn và yêu cầu về vốn ít. Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp địa phương, qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn. Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, tạo điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa.
5 Rút kinh nghiệm từ Trung Quốc, một quốc gia rộng lớn và nhiều tiềm năng phát triển đã rất nỗ lực giải quyết các vấn đề khó khăn, nhằm khôi phục cuộc sống và nguồn thu nhập cho các hộ dân bị ảnh hưởng từ quá trình thu hồi đất. Chúng tôi nhận thấy, địa bàn nghiên cứu cũng là một đô thị nhỏ, với các ưu điểm về không gian kinh doanh còn nhiều, cạnh tranh không nhiều và vốn đầu tư ít, sẽ là môi trường thuận lợi để doanh nghiệp địa phương phát triển, thu hút lao động, giải quyết các lao động dư thừa tại chỗ. Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết. Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù.
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án. Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường. Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường [78]. Việc đền bù khi thu hồi đất của Thái Lan cho thấy họ đã có những hành động thể hiện sự khách quan từ phía thực thi chính sách của Chính phủ khi tổ chức nghe ý kiến người dân trước khi định giá.
Đây cũng là quan điểm mà rất ít khi các công trình dự án ở Việt Nam thực hiện. Nhật Bản là nước luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ít và dân số đông. Việc thực hiện chính sách đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn được chú trọng để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn. Chính phủ Nhật Bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình.
Chính phủ cũng bồi dưỡng những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo 6 dục – đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và ký thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới và đang phát triển. Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng, nhiều chính sách được đưa ra như chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên. Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hóa, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường. Chế độ tuyển dụng thay đổi theo khu vực, không tập trung tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương [8].