phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. Trong đó phần nội dung luận văn bao gồm 3 chương và 10 tiết. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com N I DUNG hƣơng 1. NHỮNG VẤ Ề Ý N VỀ ỔI MỚI TỔ CHỨC B MÁY ỦA HỆ TH Í Ị Ệ TH Í Ị Ơ SỞ 1.
M t số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm hệ thống chính trị Khái niệm hệ thống chính trị xuất hiện trong nền chính trị hiện đại. Trong lịch sử xã hội việc đưa ra các quyết định chính trị mang tính quốc gia luôn thuộc thẩm quyền của bộ máy nhà nước mà tối cao nhất là các vị vua người đứng đầu nhà nước (trong đó ngoại trừ một số thời kỳ của Hy Lạp và La Mã cổ đại tồn tại thể chế dân chủ cộng hòa, trong đó Nghị viện và đông đảo nhân dân có tiếng nói quan trọng nhất định trong việc đưa ra các quyết định có tính quốc gia). Việc các cá nhân khác (như tể tướng, thượng thư,…) có góp ý hoặc tác động đến một quyết định, chính sách nào đó là có thể, tuy nhiên không được quy định trong thể chế, nghĩa là không phải là một điều bắt buộc có tính pháp lý.
Các quyết định chính trị mang tính chất quốc gia không phải là kết quả phấn đấu của cả một hệ thống bộ máy mà nó chỉ là sản phẩm của cá nhân có quyền lực tối cao nhất. Chính trị hiện đại đã khác một cách căn bản, nếu xét từ góc độ cách thức cai trị. Khi các đảng phái chính trị được thành lập nó đại diện cho các giai cấp, tầng lớp các lực lượng xã hội khác nhau xuất hiện các tổ chức chính trị - xã hội, nhóm lợi ích, phong trào xã hội,…không ngừng đấu tranh để giành quyền lực chính trị trong đó tập trung vào quyền lực nhà nước hoặc tham gia vào các quyết định chính trị, chính sách của quốc gia đã làm cho nền chính trị dân chủ hơn. Hiện nay, các quyết định chính trị đã trở thành sản phẩm của cả hệ thống bộ máy, là kết quả của một quá trình có tính thể chế, tính bắt buộc, không chỉ phụ thuộc riêng vào ý chí chủ quan của một người nào dù đó là người đứng đầu Nhà nước.
Như vậy, nghiên cứu đến nền chính trị hiện đại 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vừa phải nghiên cứu hoạt động của nhà nước nói chung và hoạt động của các cơ quan nhà nước nói riêng đồng thời vừa phải nghiên cứu đến cả vai trò, vị trí, mối quan hệ của các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình chính trị. Từ đó, có thể thấy khái niệm HTCT là một sự phản ánh những vấn đề thực tiễn chính trị hiện đại. Nó là một sản phẩm của nền chính trị vận động theo hướng dân chủ hóa. Việc đưa ra khái niệm HTCT chính là nhằm vạch ra hệ thống các chủ thể có quan hệ gắn bó với nhau trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị.
Như vậy có thể khẳng định: “Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội”[93,5]. Ở Việt Nam, thuật ngữ hệ thống chính trị được sử dụng đầu tiên trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (tháng 3 năm 1989) về “Kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới”. Tiếp theo sau đó trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, năm 1991 của Đại hội VII thuật ngữ hệ thống chính trị tiếp tục xuất hiện và khá đầy đủ trong các điều 9, điều 10, điều 11, điều 12. Từ những sự kiện này thuật ngữ HTCT đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trong nhiều văn kiện, Nghị quyết, trong các công trình nghiên cứu khoa học và cả trong đời sống chính trị.
Đến nay khái niệm HTCT vẫn còn nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau do vậy chưa thực sự được thống nhất. Có những cách tiếp cận từ góc độ cấu trúc quyền lực của giai cấp cầm quyền, cho rằng hệ thống chính trị là hệ thống quyền lực của giai cấp cầm quyền hay gọi là hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền. Có cách tiếp cận khác nữa là từ góc độ cấu trúc quyền lực của nhân dân với 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách tiếp cận này coi HTCT là một hình thức tổ chức mang tính dân chủ nhằm mục đích bảo vệ và phát huy quyền lực của nhân dân. Ngoài hai cách tiếp cận trên còn có cách tiếp cận coi hệ thống chính trị vừa là hệ thống quyền lực của giai cấp cầm quyền đồng thời vừa là hệ thống quyền lực của nhân dân.
Từ đó ta thấy lợi thế cơ bản thuộc về các các tổ chức của giai cấp cầm quyền, cụ thể là giai cấp nắm quyền lực về kinh tế để qua đó tác động vào các quá trình kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích của giai cấp cầm quyền. Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về HTCT, tiêu biểu như: Hệ thống chính trị là một cơ cấu tổ chức của xã hội, bao gồm các thực thể chính trị (các đảng chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, các phong trào chính trị…) được pháp luật hiện hành thừa nhận và hoạt động công khai; thông qua đó, giai cấp cầm quyền thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội[40, 11]. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội, bao gồm các đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống chính trị - xã hội, để củng cố duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền[40, 5]. Tiếp theo, hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (cơ quan nhà nước, đảng chính trị, phong trào xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, v.) được xây dựng theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành trên những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị [43, 10].
Cùng với sự kế thừa các giá trị tri thức về hệ thống chính trị trên thế giới và cách tiếp cận của chính trị học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, có thể hiểu: Hệ thống chính trị là một phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ thể chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Khái niệm hệ thống chính trị Việt Nam Đối với Việt Nam, lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động là thống nhất với nhau cho nên HTCT không chỉ là hệ thống quyền lực của giai cấp công nhân mà còn là cơ chế xã hội trong đó, nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, thực hiện quyền lực của mình. HTCT Việt Nam là sự thể hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoạt động trên cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong có chức năng lãnh đạo toàn diện đối với xã hội; Nhà nước có chức năng điều hành, quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; các đoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Từ đó có thể nói, HTCT Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các tổ chức: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, ở các cấp độ và mối quan hệ qua lại giữa các thành tố đó theo chức năng nhiệm vụ nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân lao động. HTCT Việt Nam có một hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội. Như vậy, để nghiên cứu HTCT Việt Nam cần nghiên cứu nó như một chỉnh thể cơ cấu tổ chức cùng cơ chế vận hành và hoạt động của các tổ chức chính trị, các thể chế chính trị, phản ánh mối quan hệ, tương quan lực lượng của các tập đoàn trong xã hội của Việt Nam. HTCT tồn tại trong xã hội Việt Nam chịu sự chi phối của xã hội Việt Nam; đồng thời các thành tố đó tác động trở lại đối với xã hội và các lĩnh vực của xã hội như chính trị, kinh tế, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn hóa,…khi nghiên cứu HTCT cần xem xét nó trong mối quan hệ tác động qua lại với các lĩnh vực khác.
Như Lê-nin đã viết về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” [68, 349]. Do vậy, HTCT cần được tổ chức và hoạt động phù hợp với yêu cầu vận động và phát triển của kinh tế - xã hội.