phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng. Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về đổi mới phƣơng thức hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp về đổi mới phƣơng thức hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI PHƢƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 1. Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị Việt Nam 1. Khái niệm hệ thống chính trị Chính trị là lĩnh vực rộng lớn và vô cùng phức tạp của xã hội có giai cấp, bao gồm các hoạt động và các mối quan hệ liên quan đến các công việc và giải quyết các vấn đề của giai cấp và nhà nƣớc. Thực chất, chính trị giải quyết mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa các chủ thể xã hội với các tổ chức và thành viên trong xã hội xoay quanh mối quan hệ quyền lực giữa chủ thể và các thành viên bên trong đó.
Hoạt động này diễn ra bên trong nhà nƣớc. Công việc của nhà nƣớc là trung tâm của các vấn đề chính trị. Trong xã hội có giai cấp và nhà nƣớc, giai cấp thống trị luôn tìm kiếm những công cụ, phƣơng tiện để xác lập và duy trì địa vị thống trị giai cấp của mình. Do đó, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là đấu tranh giai cấp nhằm giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nƣớc, mà mục đích cuối cùng là nhằm bảo vệ lợi ích, chủ yếu là lợi ích kinh tế của giai cấp cầm quyền.
Cố nhiên, chính trị không chỉ bao gồm công việc của các giai cấp và nhà nƣớc mà nó còn giải quyết những vấn đề thuộc về ý thức hệ, vấn đề đạo đức xã hội, vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa các tầng lớp xã hội khác với giai cấp, tầng lớp cầm quyền. Vì vậy, bên cạnh giai cấp và nhà nƣớc, kết cấu của xã hội còn tồn tại các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác. Trong xã hội có giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền đƣợc thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Tất cả tồn tại và vận hành trong khuôn khổ của HTCT.
Cho tới nay đã có ba quan niệm chính về HTCT dựa vào phạm vi tiếp cận của một hệ thống. Quan niệm thứ nhất cho rằng, HTCT là cơ quan quyền lực nhà nƣớc bao gồm cơ quan lập pháp, hành pháp, tƣ pháp với các chức năng, cơ chế vận hành và các 9 mối quan hệ của chúng. Quan niệm này dựa trên cơ sở là mọi quyết định chính trị, chính sách của một quốc gia đều do nhà nƣớc quyết định, ban hành. Chỉ cần tập trung làm rõ quá trình này trong chính bộ máy nhà nƣớc là có thể lý giải đƣợc những vấn đề quan trọng của đời sống chính trị.
Quan niệm thứ hai nhìn nhận HTCT ở một phạm vi rộng hơn, HTCT bao gồm nhà nƣớc và các tổ chức chính trị hợp pháp (đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, …). Cách tiếp cận này giúp ngƣời ta lý giải đƣợc nhiều vấn đề xoay quanh việc thực hiện quyền lực và ra quyết định của nhà nƣớc.Đằng sau các quyết định chính trị của nhà nƣớc là cả một quá trình đấu tranh, tƣơng tác, gây sức ép, thỏa hiệp giữa các nhóm, lực lƣợng, giai cấp, khác nhau trong xã hội. Tuy nhiên, cách tiếp cận trên cũng không giải thích đƣợc các vấn đề của đời sống chính trị trong những thời điểm đặc biệt, có nhiều biến động, diễn ra các cuộc cách mạng, khi có sự tham gia của nhiều lực lƣợng, đảng phái, các nhóm bất hợp pháp trong xã hội. Quan niệm thứ ba cho rằng, HTCT bao gồm nhà nƣớc, các tổ chức chính trị hợp pháp và cả các lực lƣợng chính trị bất hợp pháp.Cách tiếp cận này tuy không phổ biến nhƣng nó có thể khắc phục đƣợc sự hạn hẹp của hai cách tiếp cận trên trong những trƣờng hợp nhất định.
Nói chung, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu để lựa chọn cách tiếp cận cho phù hợp. Xuất phát từ những quan niệm trên, chúng ta có thể định nghĩa: HTCT là tổ hợp có tính chỉnh thể các thế chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các phong trào xã hội). được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị. HTCT là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức nhƣ: đảng chính trị (hợp pháp), nhà nƣớc, các tổ chức chính trị - xã hội (nhóm lợi ích chính trị hợp pháp) với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó nhằm tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm đảm bảo quyền thống trị của giai cấp, lực lƣợng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội.
HTCT là một chỉnh thể bao gồm các thể chế (nhà nƣớc, đảng chính trị, các tổ 10 chức chính trị - xã hội…) đƣợc phân bổ theo một kết cấu chức năng với các cơ chế vận hành và mối quan hệ giữa chúng nhằm thực thi quyền lực chính trị của giai cấp, lực lƣợng cầm quyền. HTCT xuất hiện và vận hành cùng với sự thống trị của giai cấp, nhà nƣớc nhằm thực hiện đƣờng lối chính trị của giai cấp cầm quyền. Do đó, HTCT mang bản chất giai cấp. Khái niệm, đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam 1.
Khái niệm hệ thống chính trị Việt Nam HTCT Việt Nam hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, gồm MTTQ Việt Nam và 5 đoàn thể chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Trong HTCT Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là một bộ phận cấu thành HTCT, vừa là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ HTCT. Đảng lãnh đạo Nhà nƣớc, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nƣớc là trung tâm, trụ cột của HTCT.
MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của Đảng và Nhà nƣớc. Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nƣớc và xã hội. Ðảng lãnh đạo bằng cƣơng lĩnh, chiến lƣợc, các định hƣớng về chính sách và chủ trƣơng lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gƣơng mẫu của đảng viên. Ðảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ƣu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của HTCT.
Ðảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của HTCT. Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam Về cơ bản, HTCT Việt Nam cũng đƣợc tổ chức theo những mô hình phổ biến của HTCT các nƣớc trên thế giới. Mặt khác HTCT Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng. Thứ nhất, HTCT Việt Nam do duy nhất một đảng lãnh đạo - Đảng cộng sản.
Trong một giai đoạn lịch sử, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, còn có Đảng 11 Dân chủ và Đảng Xã hội. Tuy nhiên, hai đảng này đƣợc tổ chức và hoạt động nhƣ những đồng minh chiến lƣợc của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. HTCT ở Việt Nam là thể chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập. HTCT ở Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mỗi tổ chức thành viên của HTCT đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nƣớc), tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội), vừa là tổ chức mà qua đó Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với xã hội. Thứ hai, HTCT Việt Nam là HTCT đƣợc xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, có tham khảo kinh nghiệm của thế giới. Ở đây, tính nhất nguyên chính trị của HTCT đƣợc thể hiện ở tính nhất nguyên về tƣ tƣởng. Toàn bộ HTCT đều đƣợc tổ chức và hoạt động trên nền tảng tƣ tƣởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Thứ ba, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc vận hành căn bản của HTCT. Nó thể hiện một cách khái quát ở việc phân công công việc, mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận trong HTCT (ở trung ƣơng cũng nhƣ ở các cấp địa phƣơng), sự phân cấp về thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn), mối quan hệ giữa trung ƣơng với địa phƣơng, giữa các cấp địa phƣơng với nhau. Trong từng cơ quan thuộc HTCT, những vấn đề nào do tập thể quyết định; những vấn đề nào do ngƣời đứng đầu quyết định; quy định cách thức quyết định những vấn đề đó. Thứ tư, HTCT Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của HTCT Việt Nam.Trong HTCT Việt Nam, có các tổ chức chính trị (nhƣ Đảng, Nhà nƣớc), các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa có tính xã hội (nhƣ MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội khác). Do vậy, HTCT không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội (nhƣ những lực lƣợng chính trị áp bức xã hội trong các xã hội có bóc lột), mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó với xã hội. Cầu nối quan trọng giữa HTCT với xã hội chính là MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội.