Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ 1. Những công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị * Những công trình nghiên cứu ở Lào Sa Mut Thong Sổm Pa Nít (2018) trong bài viết “Hệ thống chính trị Lào và vấn đề nhất thể hóa các vị trí chủ chốt giữa Đảng và Nhà nước” [64] đã khẳng định mô hình hệ thống chính trị của Lào khá tương đồng với Việt Nam, song cũng có nét khác. Trong những năm qua, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã tập trung đổi mới hệ thống chính trị.
Từ Đại hội IX, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thực hiện nhất thể hóa các vị trí chủ chốt giữa Đảng và Nhà nước. Thực tiễn đã cho thấy, việc thực hiện mô hình trên là phù hợp với đặc điểm văn hóa, phong tục, truyền thống của nền hành chính Lào. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào sẽ tiếp tục thực hiện mô hình này trên cơ sở đổi mới cho phù hợp với điều kiện cụ thể từng giai đoạn, từng địa phương, trong đó đặc biệt chú trọng tuyển chọn người đứng đầu, có đạo đức, tài năng, uy tín để thực hiện tốt nhiệm vụ nặng nề này. Ki-Kẹo Khảy-Khăm-Phị-Thun (2019), trong bài viết “Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của chế độ dân chủ nhân dân tại Lào trong tình hình mới” [19], đã khẳng định xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong chế độ dân chủ nhân dân trong tình hình mới là vấn đề quan trọng và có tính cấp thiết, bởi vì việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nội dung cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước, phát huy vai trò, tính chủ động của Mặt trận Lào xây dựng đất nước, các tổ chức CT- XH nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng và phát huy chế độ dân chủ nhân 9 dân, lãnh đạo đất nước thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển, lạc hậu và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cho việc thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng đầy đủ, đảm bảo quyền lực thật sự thuộc về nhân dân.
Tác giả đã làm rõ sự phát triển về nhận thức của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Khái quát thực trạng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của chế độ dân chủ nhân dân ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong thời gian qua. Qua đó, đề xuất hai phương hướng cơ bản để nâng cao chất lượng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của chế độ dân chủ nhân dân ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trước tình hình mới, cụ thể: một là, tiếp tục tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và vững chắc, đảm bảo năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và tính gương mẫu tiên phong xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân; hai là, tiếp tục củng cố, hoàn thiện Nhà nước dân chủ nhân dân quản lý bằng pháp luật, là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và thật sự vì nhân dân. * Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu về hệ thống chính trị của quốc gia đa đảng nhưng duy nhất một đảng cầm quyền không hiến định như Singapore, Malaysia, Indonexia.
Nổi bật là đề tài KX. 10-10 “Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở một số nước trên thế giới” do Tô Huy Rứa (2005) làm Chủ nhiệm đề tài [27] đã nghiên cứu sâu các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới, đặc biệt là các nước ở khu vực châu Á, Đông Nam Á và kinh nghiệm cải cách hệ thống chính trị đã tạo ra “sự thần kỳ kinh tế” và “sự thần kỳ chính trị” ở các nước này. Công trình của tác giả Tô Huy Rứa (2008) (chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới, [28] đã nghiên cứu, khảo sát và phân tích những hệ thống chính trị cơ bản có tính chất đại diện, điển hình ở một số nước trên thế giới bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng dân chủ tự do và một số nước chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tư tưởng xã hội chủ 10 nghĩa; những tác động của tư tưởng chính trị, điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, tính chất dân chủ, tiến bộ của các hệ thống này. Trên cơ sở đó, công trình cũng đưa ra các đề xuất về việc tham khảo kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị các nước đó trong quá trình nghiên cứu tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, còn có đề tài khoa học cấp cơ sở của Viện Chính trị học - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh “Các nền dân chủ ở phương Đông dưới góc nhìn chính trị học so sánh” do TS. Ngô Huy Đức (2008) làm Chủ nhiệm [9]. Đề tài đã chỉ ra những nguyên nhân biến các quốc gia và vùng lãnh thổ phương Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore từ những nước có sự chuyên chế về chính trị, nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế trở thành những nền dân chủ có tính tiêu biểu trong khu vực, thậm chí nó khắc phục được những hạn chế trong mô hình dân chủ phương Tây mà vẫn bảo tồn được các giá trị dân tộc của các quốc gia phương Đông. Tác giả Đỗ Hoài Nam (Chủ biên) (2008) trong cuốn sách“Vị trí đảng cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới” đây là sự chắt lọc kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.
Cuốn sách đã đề cập một số vấn đề lý luận mang tính khái quát về đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị ở một số nước tư bản (tác giả chọn 8 nước để nghiên cứu là: Đức, Pháp, Anh, Thụy Điển, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia). Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong điều kiện cải cách mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Từ đó, tác giả luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù không đề cập trực tiếp đến tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng cuốn sách có nhiều giá trị bổ ích để tham khảo.
Tác giả Phạm Ngọc Trâm (2011) trong cuốn sách “Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986-2011)” [36] đã khái quát quá trình hình 11 thành và phát triển hệ thống chính trị ở Việt Nam từ năm 1945 - 2011. Trong đó tác giả phân kỳ ra từng giai đoạn, chỉ rõ đặc điểm, yêu cầu, giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam; phân định rõ quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong thời kỳ chiến tranh, trong thời kỳ bao cấp và trong thời kỳ đổi mới. Tác giả Lưu Văn Sùng (2013) trong cuốn “Cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị” [31] đã nêu 6 cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị, bao gồm: i) xem xét hệ thống chính trị gắn với sự hình thành và phát triển của các thể chế chính trị; ii) nghiên cứu hệ thống chính trị dưới bình diện cấu trúc hệ thống; iii) hệ thống chính trị là tổ chức của các chủ thể quyền lực chính trị, với chức năng, giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị; iv) vận hành của hệ thống chính trị là ban hành và thực thi chính sách, quyết sách chính trị; v) nghiên cứu hệ thống chính trong mối quan hệ với những con người hoạt động trong hệ thống ấy, nhất là người đứng đầu. Công trình đã làm rõ những phương pháp luận cơ bản để tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị một cách biện chứng, hiện đại.
Tác giả Lê Quốc Lý (chủ biên) (2014) trong cuốn sách “Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta” [20] trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với việc tổng kết thực tiễn đổi mới ở Việt Nam, tác giả đã tập hợp các bài viết của các tác giả nghiên cứu và tập trung làm rõ đặc điểm của quá trình ra đời và xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam, xác định đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam, tính tất yếu khách quan của việc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những phương hướng, quan điểm đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể đổi mới hệ thống chính trị để hệ thống chính trị Việt Nam trở nên mạnh hơn, hiệu quả hơn, dân chủ được tăng cường, mở rộng, kỷ cương, kỷ luật và pháp chế được củng cố nhằm ổn định chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước. Việc nghiên cứu những yếu tố tác động đến tình hình, cục diện chính trị trên thế giới, có các công trình tiêu biểu: Phạm Thái Việt (2006) trong cuốn 12 “Toàn cầu hóa: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa [39]; Lê Quang Hòa (2008) trong bài “Một số thách thức đổi mới hệ thống chính trị trong quá trình toàn cầu hóa” [14], Nguyễn Hoàng Giáp (2012) (chủ biên) trong cuốn “Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay” [12]. Các công trình trên đã chỉ ra: những biến chuyển của bối cảnh quốc tế và khu vực đang đặt ra cho Việt Nam cả thời cơ và thách thức đan xen; cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của từng quốc gia. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn trên thế giới, xu hướng trật tự thế giới đa cực ngày càng được khẳng định cả về kinh tế và chính trị; nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại và nảy sinh nhiều vấn đề như xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp biên giới, tài nguyên., là những vấn đề phức tạp đòi hỏi các quốc gia phải giải quyết.