CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thể dục thể thao trường học 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thể dục thể thao trường học Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn trong công tác TDTT của thời kỳ đổi mới. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta.
Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng, tinh thần phấn khởi. Vận động TDTT là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà. Đó chính là những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT ở Việt Nam [1],[2],[3],[5],[87],[88],[89]. Ngay từ năm 1941, trong Chương trình cứ u nướ c của trâ Viêt Măt n minh, Đảng ta đã chủ trương: Cần khuyến khích nền thể duc quốc dân, làm cho nòi giống ngày càng thêm manh.
Từ hô Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960 đến Đai hô Đảng toàn Đai i i quốc lần thứ XI, năm 2011, trong các văn kiên và nghi ̣†quyết Đai hôị , Trung ương đều nêu quan điểm chỉ đao công tác TDTT trong cả kỳ. Đồng nhiêm thờ i trong số kỳ, Ban chấp hành Trung ương đảng đã ban hành chỉ môt nhiêm thi,̣ nghi quyết chuyên đề về công tác TDTT [1],[2],[3]. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, TDTT nước ta cần góp phần tích cực thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đó, mục tiêu chủ yếu của công tác TDTT là phát triển toàn diện con người Việt Nam về 7 sức khỏe, thể lực và các phẩm chất trí tuệ, đạo đức, để đáp ứng yêu cầu phát 8 triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [1],[2],[3].
Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 Bộ Chính trị “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao đến năm 2020” ban hành trong bối cảnh kinh tế thi ̣†trường và hôi nhâ quốc tế là p rất cần thiết để định hướng phát triển TDTT, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, kế hoạch và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TDTT trong những năm tới; khẳng định các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển sự nghiệp TDTT trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua Pháp lệnh TDTT được ban hành năm 2000. Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 2006 Luật TDTT được Quốc hội thông qua, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và HĐ TT trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung, công tác TDTT trong trường học nói riêng [26].
Không chỉ lãnh đạo TDTT và GD&ĐT bằng đường lối, chính sách, mà Nhà nước còn đề ra những giải pháp chỉ đạo thực hiện hiệu quả. Một trong những giải pháp là đẩy mạnh công tác xã hội hóa (XHH) GD và TDTT. Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về việc đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và TDTT (2005) về chính sách XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, TT nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để các ngành đẩy mạnh công tác XHH, làm cho mọi thành phần trong xã hội đổi mới quan điểm, nhận thức và giải pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia HĐ 9 và đầu tư các nguồn lực để phát triển công tác GDTC và phong trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích TT đỉnh cao và hội nhập quốc tế [85].
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và HĐ TTTH. Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các HĐ TT ngoại khóa của HSSV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung HĐ ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các HĐ TT ngoại khóa” [87, tr. Trong Chiến lược đã nêu ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho HĐ TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên TDTT, thực hiện tốt HĐ TT ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [87]. Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC.
Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học TD chính khóa, các HĐ TT ngoại khóa cho HS, xây dựng chương trình GDTC hợp lý.” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho HĐ GDTC trong trường học” [22, tr. Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 đã đề ra yêu cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó có chất lượng GDTC. Mục 5 của Nghị quyết 06/NQ-CP (2012) ghi rõ: “Nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt là GDTC. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy 10 học, gắn với việc đổi mới quy chế thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập HS” [88].
Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thể dục thể thao trường học Xác định tầm quan trọng của mục tiêu GDTC trong nhà trường phổ thông, Bộ GD&ĐT rất quan tâm tạo điều kiện để các trường học tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến những tiến bộ khoa học về GDTC. Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo triển khai dạy học TD chính khoá và tổ chức các HĐ TT ngoại khoá cùng với việc ban hành các văn bản quy định về công tác GDTC trong nhà trường. Điều đó thể hiện rõ trong Quy chế GDTC và Y tế trường học; theo đó giờ học nội khóa là giờ học môn TD, sức khỏe theo chương trình quy định; còn HĐ TT ngoại khóa được thực hiện theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý GD [9]. Đối với dạy học chính khóa, Bộ GD&ĐT đã ban hành CTGD phổ thông môn TD.
Do đặc điểm dạy và học môn TD phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất và khí hậu ở các vùng miền, Bộ giao cho các Sở GD&ĐT địa phương căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân phối chương trình cụ thể ở địa phương mình. Với HS THPT, mỗi năm học có 2 tiết/tuần và dạy học trong 35 tuần, tương ứng 70 tiết/năm [11]. Để giảm tải áp lực nặng nề cho HS trong hệ thống trường trung học, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy chế đánh giá xếp loại kết quả học tập của HS THCS và THPT, trong đó môn TD được thay đổi từ đánh giá bằng điểm sang đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập. Việc đánh giá này giúp cho HS yên tâm hơn trong học tập môn TD, đồng thời cũng giúp cho GV tự tin sáng tạo, đổi mới PPDH phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của HS [17].
Để đánh giá kết quả GDTC và TTTH phù hợp với thực tiễn và thời đại trong quá trình hội nhập quốc tế, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV, trong đó qui định về đối tượng thực hiện và 11 các yêu cầu, độ tuổi, các nội dung đánh giá cũng như tiêu chuẩn cụ thể của từng độ tuổi và giới tính của HS các cấp [15]. Trong thực tiễn, số giờ quy định của môn học TD không nhiều nên công tác TDTT trường học chỉ có thể đạt được hiệu quả khi tổ chức được các HĐ TT ngoại khoá cho HS. Khoa học đã chứng minh muốn nâng cao thể chất thì phải tập luyện tích cực và thường xuyên. Một trong những nguyên tắc của phương pháp GDTC có liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện và hệ thống luân phiên lượng vận động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện, đó là nguyên tắc hệ thống.
Theo đó, tính liên tục của quá trình GDTC và luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi, tập thường xuyên mang lại hiệu quả tất nhiên lớn hơn tập thất thường [37],[90],[92]. Ý thức vấn đề đó, Bộ GD&ĐT đã quy định về tổ chức HĐ TT ngoại khoá cho HSSV. Sự ra đời của văn bản này tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở GD tổ chức các HĐ TT ngoại khoá cho HSSV thông qua việc xây dựng kế hoạch, dự trù kinh phí đảm bảo về tài chính, CSVC, sân bãi, dụng cụ, đáp ứng nhu cầu của HSSV [16]. Đồng thời, để thể chế hóa vai trò của GDTC và TT trong nhà trường, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều lần lấy ý kiến dự thảo Nghị định về GDTC và TT trong nhà trường để trình Chính phủ ban hành [89].
Nhìn chung, từ cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về TDTT trường học đã khẳng định vai trò của nó trong công tác GD nhằm bảo vệ, tăng cường sức khoẻ, thể chất giúp hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện cho HSSV. Đây là mặt GD có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và sự phát triển về tầm vóc, thể trạng của thế hệ trẻ Việt Nam.