CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU QUẢN TRỊ QUỐC GIA 1. Khái quát về Ủy ban nhân dân phường và hoạt động của Ủy ban nhân dân phường 1. Khái quát về Ủy ban nhân dân phường 1. Vị trí pháp lý của Ủy ban nhân dân phường a) Khái niệm Phường Từ “phường” đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử Việt Nam, khoảng nửa cuối thế kỷ VI.
Ban đầu, thuật ngữ này chỉ những khu vực tập trung đông đúc người dân làm ăn buôn bán, tạo thành các trung tâm kinh tế sầm uất. Qua thời gian, ý nghĩa của từ này dần mở rộng. Trong thời kỳ phong kiến, “phường” được hiểu là những cộng đồng dân cư cùng làm một nghề hoặc một công việc thủ công (Nguyễn Văn Hậu, 2010). Đến thời kỳ hiện đại, “phường” trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở ở các đô thị, quản lý một khu vực dân cư sinh sống và hoạt động (Lê Minh Khôi, 2015).
Phường thường gắn liền với hình ảnh đô thị, nơi tập trung đông dân cư và là trung tâm của các hoạt động hành chính, kinh tế và chính trị. Khác với khu vực nông thôn với các đơn vị hành chính như xã, thôn, làng, bản, ấp, đô thị sử dụng các khái niệm như phường, tổ dân phố, khu phố để phân chia và quản lý dân cư (Trần Hoàng Phúc, 2018). Theo nghiên cứu, từ “phường” có nguồn gốc từ Hán Việt, mang ý nghĩa là một khu đất đã được quy hoạch. Từ thời chống Bắc thuộc, thuật ngữ này đã xuất hiện ở nước ta và đến thời Trần, Thăng Long đã được chia thành 61 phường, cho thấy phường đã là một đơn vị hành chính quan trọng trong đô thị Việt Nam (Nguyễn Văn Hậu, 2010; Phạm Thị Hạnh, 2016).
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước tại các cấp tỉnh, huyện và xã của Việt Nam, có nhiệm vụ thực thi pháp luật. Các chức danh trong Ủy ban nhân dân được bầu ra tại cấp tương ứng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân là người đứng đầu cơ quan này. Quyền hạn và hoạt động của Ủy ban nhân dân được quy định rõ trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương.
Để hỗ trợ công việc, Ủy ban nhân dân các cấp có các cơ quan chuyên môn như sở, phòng và ban. Theo quy định tại Điều 110 Hiến pháp 2013, Việt Nam chia thành các cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở. Cụ thể, cả nước được chia thành các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. Các tỉnh lại được phân thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh.
Riêng thành phố trực thuộc Trung ương được chia nhỏ hơn thành quận, huyện, thị xã và các đơn vị hành chính tương đương. Ở cấp cơ sở, huyện được chia thành xã và thị trấn, trong khi thị xã, thành phố thuộc tỉnh và quận được chia thành phường. 7 b) Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân phường Vị trí và vai trò của Ủy ban nhân dân phường được quy định chi tiết trong nhiều văn bản pháp luật, từ các chỉ thị, nghị quyết cấp thành phố cho đến các luật cơ bản của Nhà nước như Hiến pháp và Luật tổ chức chính quyền địa phương. Các văn bản này đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là trong những năm gần đây, để phù hợp với sự phát triển của đô thị và nhu cầu quản lý nhà nước.
Chỉ thị 45/CT-UB là một trong những văn bản đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh đề cập đến việc cải tiến tổ chức và hoạt động của UBND phường. Các văn bản sau đó như Hiến pháp 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, các luật sửa đổi năm 2019 và đặc biệt là Nghị quyết 131/2020/QH14 về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đã định hình rõ hơn về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND phường. Nghị định 33/2021/NĐ-CP là văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết 131, cung cấp những quy định cụ thể hơn về tổ chức bộ máy, hoạt động và trách nhiệm của UBND phường. Nghị quyết 594/NQ-UBTVQH15 lại tập trung vào khía cạnh giám sát, đảm bảo hoạt động của UBND phường luôn tuân thủ pháp luật và đáp ứng nhu cầu của người dân.
Tóm lại, UBND phường là cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, giải quyết các vấn đề của địa phương và phục vụ Nhân dân. Việc liên tục hoàn thiện khung pháp lý đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND phường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý đô thị. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường Theo Điều 9 của Nghị quyết 131/2020/QH14, UBND phường có nhiệm vụ quản lý ngân sách, thực hiện các quyền hạn liên quan đến ngân s ách nhà nước, đề xuất chủ trương đầu tư và tổ chức các dự án đầu tư công. UBND phường cũng chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn thông qua việc phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác quốc phòng, an ninh và phòng chống tội phạm.
Ngoài ra, UBND phường còn tham gia tổ chức bầu cử và phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để thành lập các tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Các nhiệm vụ khác được giao theo sự phân cấp và ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. UBND phường không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhưng vẫn chịu trách nhiệm đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn. Như vậy, UBND phường đóng vai trò thiết yếu trong việc thực hiện các chính sách nhà nước, phục vụ Nhân dân và chịu sự giám sát của cấp trên và cộng đồng.
Tại một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM có cơ chế đặc thù có thể ảnh hưởng đến việc phân cấp, phân quyền và cơ cấu tổ chức của UBND phường. Hồ Chí Minh, theo Nghị quyết 131/2020/QH14 và Nghị định 33/2021/NĐ-CP, UBND phường không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp từ UBND quận và TP. Hồ Chí Minh. Điều này thể hiện sự khác biệt trong phân cấp quản lý, với sự tập trung quyền lực hơn ở cấp quận và thành phố để đảm bảo quản lý hiệu quả tại các đô thị lớn.
Khi so sánh với cơ chế thông thường, trong cơ chế không đặc thù, UBND phường có thể có quyền tự chủ hơn trong việc ra quyết định ở mức độ thấp hơn, nhưng tại các đô thị lớn, cơ chế này được điều chỉnh để phù hợp với quy mô và yêu cầu quản lý chặt chẽ hơn do tốc độ đô thị hóa và mật độ dân số cao. - Tại Hà Nội, theo cơ chế đặc thù được quy định bởi Nghị quyết 97/2019/QH14, UBND phường hoạt động mà không có Hội đồng nhân dân (HĐND) phường như các địa phương khác. Điều này có nghĩa là UBND phường trực tiếp chịu sự chỉ đạo và giám sát từ UBND quận, thay vì HĐND phường. Trong cơ chế này, Chủ tịch UBND phường không phải do HĐND phường bầu ra, mà được bổ nhiệm bởi UBND quận, giúp tăng tính chủ động và hiệu quả trong quản lý.
Phân cấp và phân quyền tại Hà Nội cũng được thực hiện mạnh mẽ hơn, với UBND phường có quyền tự chủ rõ ràng hơn trong việc quản lý đô thị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường và cung cấp dịch vụ công. Đặc biệt, Hà Nội chú trọng vào việc hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính và cung cấp dịch vụ công, giúp UBND phường hoạt động hiệu quả và minh bạch hơn. Cơ cấu tổ chức của UBND phường và các chức danh công chức phường Về Chủ tịch UBND phường, thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: - Lãnh đạo và điều hành công việc của UBND phường, các thành viên UBND phường. - Đảm bảo việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, các quyết định của cấp trên và địa phương; duy trì trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh chống tội phạm; bảo vệ tài sản và quyền lợi hợp pháp của công dân.
- Quản lý tài sản, ngân sách, cơ sở vật chất của phường; giải quyết khiếu nại, tố cáo; tiếp công dân. - Phối hợp xây dựng quy hoạch đô thị, bảo vệ môi trường, và quản lý dân cư. - Xử lý các tình huống khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh, cháy nổ. - Thực hiện các nhiệm vụ được giao bởi cấp trên.
Chủ tịch UBND phường có trách nhiệm cá nhân trong việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao, đồng thời cùng với các thành viên khác của UBND chịu trách nhiệm tập thể trước HĐND thành phố, cơ quan cấp trên, Nhân dân địa phương và pháp luật. Cụ thể, Chủ tịch trực tiếp chỉ đạo hoặc giao cho Phó Chủ tịch giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh vực của phường. Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch 9 có thể thành lập các tổ chức tư vấn để hỗ trợ công việc. Ngoài ra, Chủ tịch còn có quyền ủy nhiệm cho Phó Chủ tịch điều hành UBND khi vắng mặt và thay mặt UBND ký các quyết định, ban hành chỉ thị, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn bản này.
Về Phó chủ tịch UBND phường, và các Ủy viên và công chức đều có những vai trò quan trọng trong việc điều hành hoạt động của chính quyền địa phương. Phó Chủ tịch chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chủ tịch UBND về những nhiệm vụ được giao, trong khi đó, các Ủy viên thường được phân công phụ trách các lĩnh vực cụ thể. Cả Phó Chủ tịch và Ủy viên đều có trách nhiệm tham gia đầy đủ các phiên họp, đóng góp ý kiến và cùng chịu trách nhiệm tập thể về các quyết định của UBND. Công chức phường, với tư cách là những người làm công tác chuyên môn, có nhiệm vụ hỗ trợ UBND trong việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước, đồng thời chịu trách nhiệm báo cáo công việc cho cấp trên.