Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho một tổ chức. Chương 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực tại Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Chương 3: Phương hướng và giải pháp đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực tại Ủy ban chứng khoán Nhà nước. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO MỘT TỔ CHỨC 1.
Khái luận chung về công tác lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực 1. Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực a. Khái niệm nguồn nhân lực Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.
“Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” (Giáo trình “Quản trị nhân lực” – Đại học kinh tế quốc dân). “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức.Milkovich and John W.Boudreau – Human resourses management) Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu, nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên đều hướng đến việc phân tích nguồn nhân lực thông qua ba tiêu chí là: số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực. Trong luận văn sử dụng định nghĩa: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu của tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức với khả năng (trí lực, thể lực và tâm lực) và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”.
Phát triển nguồn nhân lực * Khái niệm Với hoạt động cụ thể của một tổ chức, định nghĩa PTNNL được hiểu như sau: “Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động” (PGS.Nguyễn Ngọc Quân). Xét về nội dung thì PTNNL bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển. Khái niệm này chưa nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của PTNNL là phát triển tổ chức, phát triển cá nhân người lao động. Theo sách Cẩm nang về PTNNL của tác giả Leonard Nadler in năm 1984: “Phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân” Khái niệm phát triển nguồn nhân lực được sử dụng trong luận văn: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng được nhu cầu phát triển của tổ chức, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân.” Đây là một quá trình làm tăng giá trị của con người trên các mặt đạo đức, học tập, lao động, trí tuệ, kỹ năng và thể lực… làm cho con người có khả năng làm việc cao nhất, đóng góp có hiệu quả nhất vào sự phát triển của tổ chức. * Nội dung PTNNL: - Phát triển theo chiều rộng (số lượng) Số lượng nhân lực của tổ chức để cập đến việc hiện tại có bao nhiêu người đang hoạt động và sẽ có thêm bao nhiêu người trong tương lai phục cho tổ chức. Đây là vấn đề cơ bản trong xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm: yếu tố bên trong (nhu cầu thực tế công 9 việc, các chức năng, nhiệm vụ mới được phân công… ) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức (xu hướng công việc, định hướng phân công xã hội… ).
Việc phát triển theo chiều rộng (số lượng) nguồn nhân lực là sự thúc đẩy gia tăng về số lượng con người trong nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu hoạt động của tổ chức. Sự PTNNL về số lượng hợp lý là đảm bảo số lượng người lao động theo nhu cầu của lĩnh vực hoạt động và sự phát triển của tổ chức ở mỗi giai đoạn phát triển, ngược lại sự phát triển quá nhiều hoặc quá ít tạo ra sự thiếu hụt hay dư thừa so với nhu cầu của tổ chức đều là sự phát triển bất hợp lý về số lượng và gây nên những khó khăn, trở ngại trong sử dụng nguồn nhân lực. - Phát triển theo chiều sâu (chất lượng, cơ cấu) Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực, thể lực và tâm lực (phẩm chất tâm lý xã hội/đạo đức) là các yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Do vậy, PTNNL về chất lượng là làm tăng lên về mặt chất của nguồn nhân lực, là quá trình tổng hòa, tác động trên tất cả các mặt kể trên. Về thể lực chỉ trạng thái sức khoẻ của con người, phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Đây là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường và đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh trong lao động.
Về trí lực chỉ suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu của từng con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho nguồn nhân lực hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. 10 Về tâm lực chính là tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ.), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc. Ngày nay, điều đem lại lợi thế cho nguồn nhân lực ngoài trí lực và thể lực, còn phải tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người. Phát triển nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã hội.
Cơ cấu nhân lực cũng là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi… Cơ cấu nhân lực thể hiện các nét đặc trưng của một tổ chức, việc tận dụng hiệu quả cơ cấu này giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo động lực cho sự phát triển của tổ chức. Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực a. Khái niệm Hiểu theo cách chung nhất, kế hoạch là sự thể hiện mục đích, kết quả cũng như cách thức, giải pháp thực hiện cho một hoạt động tương lai.
Gắn với nội dung của quy trình quản lý, thì kế hoạch thuộc chức năng đầu tiên và quan trọng nhất, đó là sự thể hiện ý đồ của chủ thể về sự phát triển trong tương lai của đối tượng quản lý và các giải pháp để thực thi. Hay nói cách khác kế hoạch là dự định của nhà quản lý cho công việc tương lai của tổ chức về mục tiêu, nội dung, phương thức quản lý và các nguồn lực được chương trình hóa. Trên cơ sở khái niệm chung về kế hoạch, luận văn sử dụng khái niệm kế hoạch PTNNL như sau: “Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của một tổ chức là một công cụ giữ vai trò trung tâm trong quản trị nhân lực của một tổ chức, nó xác định một cách hệ thống các hoạt động nhằm phát triển nguồn nhân lực (tạo ra nguồn nhân lực với số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển của tổ chức, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân) để đáp ứng mục tiêu chung của tổ chức trong mỗi giai đoạn nhất định. Nội dung kế hoạch phát triển nguồn nhân lực Kế hoạch PTNNL là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch phát triển của tổ chức, nhằm xác định quy mô, cơ cấu của nguồn nhân lực cần huy động trong quá trình phát triển của tổ chức, cân đối nhu cầu với khả năng cung cấp nguồn nhân lực trong kỳ kế hoạch, xác định các chỉ tiêu nguồn nhân lực của tổ chức và đề xuất các giải pháp chính sách quan trọng nhằm khai thác, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức.
Trên cơ sở nội dung về PTNNL, bản kế hoạch PTNNL phải thể hiện được cụ thể một số nội dung chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho tổ chức trong bối cảnh tác động của các yếu tố môi trường hoạt động. Nội dung bản kế hoạch bao gồm dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và phát triển các chương trình nhằm đảm bảo sự sẵn sàng về số lượng của các loại và với chất lượng mong muốn về nguồn nhân lực cho tổ chức ở đúng nơi và vào đúng lúc.