Tổng quan nghiên cứu

Ngành nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt xung kích trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước với tốc độ tăng trưởng kim ngạch duy trì bình quân 15%/năm trong giai đoạn tiền hội nhập. Mặc dù bảo đảm vững chắc an ninh lương thực cho hơn 85 triệu dân và sở hữu nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng hàng đầu thế giới, nông nghiệp Việt Nam bước vào năm 2007 với bước ngoặt lịch sử khi chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Sự kiện này mở ra cơ hội tiếp cận thị trường khổng lồ với hơn 5 tỷ người tiêu dùng, chiếm tới 95% GDP và 95% tổng giá trị thương mại toàn cầu, nhưng đồng thời đặt ra thách thức gay gắt về tính hợp pháp của các chính sách can thiệp thương mại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng trợ cấp để gia tăng năng lực cạnh tranh cho nông sản trong nước với nghĩa vụ tuân thủ các cam kết quốc tế mang tính ràng buộc khắt khe. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm: hệ thống hóa các chuẩn mực pháp lý của WTO về trợ cấp nông nghiệp; phân tích toàn diện thực trạng chính sách trợ cấp xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn 1999-2006; đối chiếu tính tương thích của hệ thống chính sách hiện hành với các quy định đa phương; và đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới chính sách trợ cấp giai đoạn 2007-2015 nhằm thúc đẩy xuất khẩu bền vững.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế ngành nông nghiệp Việt Nam, bao quát các nhóm hàng xuất khẩu trọng điểm như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều và chè trong giai đoạn chuyển tiếp 1999-2007. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc định hướng tái phân bổ dòng ngân sách nhà nước – vốn chi hơn 1.000 tỷ đồng mỗi năm cho các hình thức trợ cấp xuất khẩu trực tiếp dễ bị khiếu kiện – chuyển dịch toàn diện sang các công cụ hỗ trợ gián tiếp hợp pháp, bảo vệ sinh kế cho hơn 2,5 triệu hộ nông dân và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế vĩ mô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết thương mại quốc tế tự do, lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter và khung phân tích chính sách công về trợ cấp. Trợ cấp được tiếp cận dưới góc độ công cụ tài khóa nhằm tái phân bổ nguồn lực quốc gia, bao gồm các hình thức cấp tiền trực tiếp, ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất tín dụng và can thiệp giá nhằm cải thiện vị thế cạnh tranh của sản phẩm nội địa.

Về phương diện pháp lý đa phương, đề tài áp dụng trực tiếp hai bộ hiệp định cốt lõi của WTO:

  • Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM): Phân loại trợ cấp phi nông sản theo hệ thống đèn giao thông gồm Trợ cấp bị cấm (Đèn đỏ - gắn liền với kết quả xuất khẩu hoặc ưu tiên dùng hàng nội địa), Trợ cấp có thể bị khiếu kiện (Đèn vàng - gây thiệt hại nghiêm trọng cho đối tác) và Trợ cấp không bị khiếu kiện (Đèn xanh - hỗ trợ R&D, phát triển vùng khó khăn và bảo vệ môi trường).
  • Hiệp định Nông nghiệp (Hiệp định AoA): Thiết lập ba nhóm hỗ trợ nội địa gồm Hộp Hổ phách (Amber Box - các biện pháp trợ giá bóp méo thị trường bị ràng buộc bởi Tổng mức hỗ trợ gộp AMS), Hộp Xanh lam (Blue Box - các khoản chi trực tiếp kèm điều kiện hạn chế sản xuất) và Hộp Xanh lá cây (Green Box - các chính sách hỗ trợ dịch vụ công, nghiên cứu khoa học, khuyến nông, cơ sở hạ tầng được miễn trừ hoàn toàn nghĩa vụ cắt giảm).

Bên cạnh đó, luận văn tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn từ Hoa Kỳ – quốc gia có mức hỗ trợ nông nghiệp lên tới 108,7 tỷ USD vào năm 2004 nhưng chủ yếu chi trả trực tiếp theo diện tích đất mà không gắn với sản lượng – và Trung Quốc, đất nước đã chuyển dịch thành công từ trợ giá lương thực sang gói hỗ trợ 1,6 tỷ Nhân dân tệ cho giống cây trồng và đầu tư 58 tỷ Nhân dân tệ vào cơ sở hạ tầng thủy lợi nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các văn kiện đàm phán chính thức của WTO (mã tài liệu WT/ACC/SPEC/VNM/3/Rev.5), báo cáo thống kê của Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), cùng các văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định 195/1999/QĐ-TTg, Quyết định 28/2004/QĐ-TTg, Nghị định 164/2003/NĐ-CP và Nghị định 35/2002/NĐ-CP. Timeline nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu từ năm 1999 đến năm 2006, có mở rộng phân tích các mốc dữ liệu 6 tháng đầu năm 2007.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, so sánh đối chiếu chuẩn mực quốc tế, phân tích định tính kết hợp định lượng và phương pháp nghiên cứu điển hình (Case study). Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích (purposive sampling), khảo sát chuyên sâu tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xuất nhập khẩu Cà phê Tây Nguyên – doanh nghiệp nhà nước hạng 1 có mạng lưới xuất khẩu tới hơn 50 quốc gia với kim ngạch xuất khẩu vượt 202 triệu USD vào năm 2006.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ đặc thù nguồn ngân sách trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn này còn hạn hẹp, phân bổ phân tán dưới dạng các khoản hỗ trợ li ti cho hàng trăm đơn vị theo từng hợp đồng đơn lẻ, khiến việc phát phiếu điều tra diện rộng không khả thi về mặt tiếp cận dữ liệu kế toán chi tiết. Do đó, việc phân tích sâu trường hợp một doanh nghiệp đầu ngành giúp nhận diện chính xác cơ chế tác động, độ trễ chính sách và tính hiệu quả thực tế của từng dòng trợ cấp đối với hoạt động xuất khẩu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm đã làm sáng tỏ bốn phát hiện mang tính then chốt:

Thứ nhất, quy mô trợ cấp xuất khẩu trực tiếp của Việt Nam trong giai đoạn 1999-2001 đạt mức trung bình 1.061,21 tỷ đồng mỗi năm. Trong đó, gạo là mặt hàng nhận hỗ trợ lớn nhất với 636,26 tỷ đồng/năm (chiếm xấp xỉ 60% tổng chi trợ cấp xuất khẩu), tiếp theo là cà phê với 362,65 tỷ đồng/năm (chiếm 34,2%), rau quả đạt 62,30 tỷ đồng/năm (chiếm 5,9%) và thịt lợn đạt 37,49 tỷ đồng/năm (chiếm 3,5%). Các hình thức hỗ trợ chủ yếu là bù lỗ thu mua tạm trữ, hỗ trợ lãi suất ngắn hạn và thưởng theo kim ngạch xuất khẩu.

Thứ hai, cơ cấu hỗ trợ nông nghiệp nội địa của Việt Nam có độ an toàn pháp lý tương đối cao khi nhóm chính sách thuộc Hộp Xanh lá cây (Green Box) chiếm tới 84,5% tổng giá trị hỗ trợ trong nước giai đoạn 1999-2000. Trong nhóm này, chi phí dịch vụ cơ sở hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 33%, chương trình hỗ trợ vùng khó khăn chiếm 21%, dự trữ công vì an ninh lương thực chiếm 15%, dịch vụ khuyến nông chiếm 11% và khắc phục thiên tai chiếm 10%. Các khoản hỗ trợ thuộc Hộp Xanh lam (Blue Box) chiếm 10,7%, tập trung vào tín dụng ưu đãi hộ nghèo và hỗ trợ chuyển đổi cây trồng.

Thứ ba, các biện pháp trợ cấp xuất khẩu trực tiếp mang lại hiệu quả kinh tế thực tế rất khiêm tốn. Số liệu khảo sát tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xuất nhập khẩu Cà phê Tây Nguyên chỉ ra rằng khoản tiền thưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt khoảng 1.012,46 ngàn USD trên tổng kim ngạch xuất khẩu hơn 202 triệu USD – tức chỉ chiếm tỷ lệ xấp xỉ 0,5%. Mức chi trả này hoàn toàn mang tính khuyến khích tinh thần chứ không đủ sức tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá hay thúc đẩy mở rộng thị trường. Khoản bù lỗ 7 tỷ đồng nhận được vào năm 2000 chỉ giúp xử lý khó khăn ngắn hạn khi giá thế giới sụt giảm xuống mức 500-700 đồng/kg so với giá mua sàn nội địa 1.350 đồng/kg.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ ra sự bất bình đẳng sâu sắc trong bức tranh thương mại nông sản quốc tế. Trong khi toàn cầu chi khoảng 300 tỷ USD cho trợ cấp nông nghiệp thì riêng 21 quốc gia phát triển đã chiếm tới 250 tỷ USD. Khối OECD năm 2005 trợ cấp tới 280 tỷ USD (tương đương 225 tỷ Euro), trong đó mức trợ cấp của Liên minh châu Âu (EU) chiếm 32% tổng doanh thu nông nghiệp, Hoa Kỳ chiếm 16% (riêng hỗ trợ người trồng bông vượt 4 tỷ USD/năm), Nhật Bản chiếm 56% và Hàn Quốc chiếm 63%. Nông dân Việt Nam với diện tích đất canh tác bình quân manh mún chỉ 0,3 ha/hộ (so với mức 200 ha/hộ tại Australia) phải đối mặt trực tiếp với sự cạnh tranh khốc liệt từ các dòng nông sản được bảo hộ nặng nề từ các nền kinh tế phát triển.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản khiến các biện pháp trợ cấp xuất khẩu trực tiếp của Việt Nam kém hiệu quả là do tư duy hỗ trợ tập trung vào phần "ngọn" thay vì đầu tư vào phần "gốc". Việc cấp bù lỗ và thưởng kim ngạch dựa trên lượng hàng thô vô hình trung khuyến khích doanh nghiệp chạy theo số lượng mà bỏ quên khâu nâng cao chất lượng và kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm. Điển hình như cà phê Robusta Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản lượng nhưng chỉ đứng thứ 5 về kim ngạch do tỷ lệ hàng kém phẩm cấp bị loại bỏ tại sàn giao dịch LIFFE ở mức cao.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây, kết quả luận văn củng cố luận điểm của giới học thuật kinh tế quốc tế rằng trợ cấp xuất khẩu là chính sách phi kinh tế, gây thất thoát ngân sách và bóp méo phân bổ nguồn lực. Trong khi Mỹ và Trung Quốc đã sớm xây dựng các lá chắn hỗ trợ gián tiếp tinh vi thông qua bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm tín dụng xuất khẩu và trợ cấp đầu vào công nghệ cao, Việt Nam vẫn duy trì cơ chế hỗ trợ thụ động, thiếu tính dự báo.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, toàn bộ dữ liệu phân bổ hỗ trợ có thể được thể hiện thông qua Biểu đồ tròn (Pie Chart) biểu diễn cơ cấu 10 danh mục chi tiêu Hộp Xanh lá cây (với 33% cơ sở hạ tầng, 21% hỗ trợ vùng và 15% dự trữ lương thực), kết hợp cùng Bảng tổng hợp đa chiều đối chiếu giá trị trợ cấp của 4 nhóm nông sản chủ lực (gạo, cà phê, cao su, chè) giai đoạn 1999-2006 nhằm làm nổi bật xu hướng chuyển dịch trước và sau khi gia nhập WTO.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông sản tương thích với luật chơi quốc tế, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, bãi bỏ hoàn toàn 100% các biện pháp trợ cấp xuất khẩu trực tiếp thuộc nhóm Đèn đỏ (thưởng kim ngạch xuất khẩu theo Quyết định 195/1999/QĐ-TTg, bù lỗ giá mua nông sản, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp gắn với điều kiện xuất khẩu theo Nghị định 164/2003/NĐ-CP). Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương. Timeline: Hoàn thành ngay trong giai đoạn 2007-2008. Target metric: Cắt giảm triệt để 100% các dòng ngân sách vi phạm cam kết đa phương, chuyển hóa toàn bộ nguồn lực tài chính bình quân hơn 1.000 tỷ đồng/năm sang các quỹ phát triển nông nghiệp hợp pháp.

Thứ hai, gia tăng mạnh mẽ đầu tư công vào cơ sở hạ tầng logistics, thủy lợi và dịch vụ kỹ thuật nông thôn thuộc nhóm Hộp Xanh lá cây. Chủ thể thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố. Timeline: Triển khai liên tục giai đoạn 2008-2012. Target metric: Nâng quy mô vốn đầu tư xây dựng, cải tạo hạ tầng tưới tiêu và giao thông nội đồng lên mức trên 3.500 tỷ đồng/năm, phấn đấu giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch của lúa gạo và rau quả từ mức 15% xuống dưới 8%.

Thứ ba, tái cấu trúc chính sách tín dụng và trợ cấp đầu vào cho hoạt động nghiên cứu giống, công nghệ chế biến sâu. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và Bộ Khoa học và Công nghệ. Timeline: Thực hiện trong giai đoạn 2008-2015. Target metric: Tài trợ 100% kinh phí lưu giữ nguồn gen và lai tạo giống năng suất cao (theo Quyết định 225/1999/QĐ-TTg), triển khai các gói tín dụng trung và dài hạn với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn 50% so với lãi suất thị trường cho các dự án chế biến tinh, nâng tỷ trọng nông sản chế biến sâu có thương hiệu lên trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Thứ tư, đẩy mạnh chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia và xây dựng thương hiệu nông sản quốc tế. Chủ thể thực hiện: Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương) phối hợp chặt chẽ cùng các Hiệp hội ngành hàng (Hiệp hội Cà phê - Ca cao, Hiệp hội Lương thực). Timeline: Định kỳ hàng năm giai đoạn 2007-2015. Target metric: Tăng ngân sách hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại nông sản lên trên 100 tỷ đồng/năm (theo cơ chế Quyết định 279/2005/QĐ-TTg), hỗ trợ 100% chi phí xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo thị trường và thiết lập chỉ dẫn địa lý cho 5 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực tại hơn 50 thị trường mục tiêu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cao đối với bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp khung phân tích pháp lý chuẩn xác về Hiệp định SCM và AoA, giúp cơ quan quản lý thiết kế các gói kích cầu nông nghiệp nằm trọn vẹn trong Hộp Xanh lá cây, vừa hỗ trợ đắc lực cho nông dân vừa phòng tránh tối đa nguy cơ bị đối tác thương mại khởi kiện áp thuế chống trợ cấp.

Thứ hai, ban lãnh đạo và chuyên viên kế hoạch - tài chính tại các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nhận thức rõ việc chấm dứt các khoản bao cấp tài chính trực tiếp từ nhà nước, từ đó chủ động cơ cấu lại dòng vốn kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ thu hoạch, chế biến và nâng cấp hệ thống quản lý chất lượng đạt chuẩn quốc tế thay vì trông chờ tiền thưởng xuất khẩu.

Thứ ba, các Hiệp hội ngành hàng nông sản (như Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam VICOFA, Hiệp hội Lương thực Việt Nam VFA, Hiệp hội Cao su). Tài liệu là căn cứ thực tiễn quan trọng để các hiệp hội xây dựng chiến lược liên kết chuỗi giá trị từ nông dân đến nhà máy, vận hành hiệu quả các quỹ hỗ trợ ngành hàng và đề xuất các chương trình xúc tiến thương mại tập thể ra thị trường nước ngoài.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế và Chính sách công. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá định lượng chính sách bảo hộ thương mại, cung cấp nguồn dữ liệu lịch sử chuẩn xác về giai đoạn chuyển giao kinh tế của Việt Nam khi bước vào sân chơi WTO.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao Việt Nam bắt buộc phải chấm dứt toàn bộ trợ cấp xuất khẩu nông sản ngay khi trở thành thành viên chính thức của WTO? Theo quy định tại Điều 3 Hiệp định SCM và cam kết gia nhập của Việt Nam, mọi hình thức trợ cấp phụ thuộc vào kết quả xuất khẩu (nhóm Đèn đỏ) như thưởng kim ngạch hay bù lỗ xuất khẩu (giai đoạn 1999-2001 chi bình quân 1.061,21 tỷ đồng/năm) đều bị cấm tuyệt đối vì gây bóp méo dòng chảy thương mại tự do.

  2. Chính sách hỗ trợ nội địa Hộp Xanh lá cây (Green Box) mang lại lợi thế gì cho Việt Nam trong giai đoạn hội nhập? Hộp Xanh lá cây chiếm tới 84,5% ngân sách hỗ trợ nông nghiệp nội địa của Việt Nam (1999-2000), bao gồm chi phí dịch vụ cơ sở hạ tầng (33%), khuyến nông (11%) và nghiên cứu giống (260-300 tỷ đồng/năm). Đây là nhóm chính sách không bị ràng buộc cắt giảm theo Hiệp định AoA do không tác động làm biến dạng thị trường.

  3. Tại sao tiền thưởng theo kim ngạch xuất khẩu không giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững? Khảo sát tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xuất nhập khẩu Cà phê Tây Nguyên cho thấy khoản tiền thưởng năm 2006 chỉ đạt 1.012,46 ngàn USD trên doanh số hơn 202 triệu USD (tỷ lệ dưới 0,5%). Mức hỗ trợ phân tán này quá nhỏ bé, chỉ mang tính động viên ngắn hạn chứ không giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ hay xây dựng thương hiệu.

  4. Nông sản xuất khẩu của Việt Nam gặp phải những bất lợi cạnh tranh gì so với các quốc gia phát triển? Các nước thành viên OECD trợ cấp cho nông nghiệp tới 280 tỷ USD vào năm 2005 (EU trợ cấp chiếm 32% doanh thu, Mỹ chi trên 4 tỷ USD trợ cấp bông). Trong khi đó, nông dân Việt Nam canh tác với quy mô nhỏ chỉ 0,3 ha/hộ, thiếu vốn đầu tư sâu và liên tục vấp phải các rào cản kỹ thuật vệ sinh an toàn thực phẩm.

  5. Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm gì từ chính sách chuyển đổi trợ cấp nông nghiệp của Trung Quốc sau khi vào WTO? Trung Quốc đã xóa bỏ trợ giá trực tiếp và chuyển hướng sang trợ cấp đầu vào như chi 1,6 tỷ Nhân dân tệ cho giống chất lượng cao, đầu tư 58 tỷ Nhân dân tệ xây dựng hạ tầng thủy lợi và áp dụng cơ chế hoàn thuế VAT xuất khẩu. Việt Nam có thể vận dụng mô hình này để hỗ trợ hợp pháp chuỗi sản xuất.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về trợ cấp thương mại, phân định rõ ràng ranh giới pháp lý giữa Hiệp định SCM và Hiệp định AoA của WTO trong lĩnh vực nông nghiệp.
  • Phân tích chi tiết quy mô ngân sách trợ cấp xuất khẩu bình quân 1.061,21 tỷ đồng/năm giai đoạn 1999-2001, đồng thời chỉ ra tính kém hiệu quả của các biện pháp trợ cấp trực tiếp nhóm Đèn đỏ.
  • Khẳng định tính tương thích cao của 84,5% ngân sách hỗ trợ nội địa thuộc nhóm Hộp Xanh lá cây (chiếm 33% cho cơ sở hạ tầng và 21% cho các chương trình phát triển vùng khó khăn).
  • Rút ra các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ chính sách trợ cấp nông nghiệp của Hoa Kỳ và Trung Quốc nhằm định hình chiến lược can thiệp gián tiếp phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chuyển dịch dòng ngân sách sang phát triển giống công nghệ cao, hiện đại hóa hạ tầng logistics và xúc tiến thương mại quốc tế giai đoạn 2007-2015.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc giúp định hình lại chính sách tài khóa nông nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu. Để triển khai hiệu quả các khuyến nghị, lộ trình tiếp theo đòi hỏi các bộ ngành hoàn tất rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2007-2010, tiến tới nhân rộng mô hình liên kết chuỗi giá trị nông sản chất lượng cao trong giai đoạn 2011-2015. Các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động để đưa các giải pháp vào thực tiễn, biến áp lực hội nhập thành động lực bứt phá cho nông sản Việt Nam trên trường quốc tế.