phần mở đầu, phần kiến nghị và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Chƣơng 2: Thực trạng về chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi, lấy ví dụ thực tế ở Nghệ An. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN MIỀN NÚI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ.1- LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN MIỀN NÚI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ: 1.1- Đặc điểm và vai trò của miền núi và kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi: 1.1- Đặc điểm của miền núi và kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi: - Miền núi nƣớc ta chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, trải dài từ bắc đến nam, với khoảng 1/3 dân số (23 triệu ngƣời) bao gồm các vùng Tây bắc, Đông bắc, duyên hải miền trung, Tây nguyên, Tây Nam bộ.
Hiện có khoảng 19 tỉnh miền núi, 23 tỉnh có miền núi trong tổng số 64 tỉnh thành phố của cả nƣớc. - Về điều kiện tự nhiên: là vùng địa hình phức tạp, hiểm trở, bị chia cắt, lồi lõm, độ dốc lớn, khí hậu, thổ nhƣỡng hình thành nhiều tiểu vùng khác nhau, thƣờng có sự thay đổi thất thƣờng, tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc miền núi. - Địa bàn sinh sống dễ bị tổn thƣơng về môi trƣờng và xã hội: Vùng cƣ trú của các dân tộc ngƣời thiểu số là địa bàn nhạy cảm với những tác động không bình thƣờng của môi trƣờng, các yếu tố rừng, đất đai, khí hậu, nƣớc. đến hoạt động kinh tế.
Lũ lụt, cháy rừng, sạt lở đất, lũ quét. là những nguy cơ gây ra mất cân bằng môi trƣờng sinh thái, ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống của cộng đồng dân cƣ đồng thời khó đạt đƣợc mục tiêu đầu tƣ phát triển bền vững. - Điều kiện phát triển kinh tế nhiều khó khăn: Miền núi là vùng địa bàn phức tạp, bị chia cắt, tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị xâm hại, cạn kiệt và 8 mâu thuẫn với sự gia tăng dân số. Nhiều vùng đồng bào thiếu đất sản xuất, nhà cửa tạm bợ, điều kiện về y tế, giáo dục không đƣợc đáp ứng kịp thời, chƣa có điều kiện để tiếp cận với khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
- Tập quán xã hội còn nhiều lạc hậu: Dân trí và trình độ học vấn của đại đa số các nhóm tộc ngƣời còn rất hạn chế, các hủ tục trong hôn nhân, ma chay, lối sống, sinh hoạt gia đình và cộng đồng còn nhiều biểu hiện không phù hợp với lối sống mới; tính trông chờ, ỷ lại, thiếu năng động trong phát huy ý chí tự cƣờng vƣơn lên của đại đa số dân cƣ và tộc ngƣời còn phổ biến là nguyên nhân của sự trì trệ, thiếu năng động trong sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. - Chất lƣợng dân số phát triển không đồng đều cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tỷ lệ tăng dân số giữa các tộc ngƣời cũng nhƣ số lƣợng con trong từng gia đình không đồng đều, không tƣơng xứng với điều kiện kinh tế nên không đảm bảo đƣợc việc nuôi dƣỡng, học hành, chăm sóc sức khỏe và phát triển. Đây là nguyên nhân tạo nên nguồn nhân lực của các tộc có chất lƣợng thấp, không đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển của từng địa phƣơng và của toàn bộ vùng miền núi của cả nƣớc.
- Kết cấu hạ tầng còn nhiều khó khăn: Mặc dù chƣơng trình 135 và các chƣơng trình khác của Chính phủ đã tập trung đầu tƣ nhƣng chỉ mới giải quyết đƣợc một phần nhỏ. Nhìn chung cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi vẫn còn nhiều yếu kém. Hệ thống giao thông, trƣờng học, bệnh viện, cơ sở bƣu chính viễn thông, thông tin đại chúng, cơ sở dịch vụ trao đổi hàng hóa, phân bón, chuyển giao khoa học công nghệ. còn nhiều bất cập và chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đặt ra.
- Điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội, dịch vụ phát triển hạn chế do cơ sở hạ tầng kém; hệ thống tổ chức bộ máy, các dịch vụ kinh tế, xã hội chƣa 9 đƣợc quan tâm đúng mức; nhiều vùng của đồng bào miền núi còn bị đóng kín trong việc tiếp cận với các điều kiện thông tin kinh tế, văn hóa - xã hội cũng nhƣ các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và nâng cao đời sống vật chất tinh thần. - Quản lý nhà nƣớc và hệ thống chính trị còn yếu kém, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ từ thôn bản đến huyện còn nhiều hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu nhiệm vụ đặt ra nên việc lãnh đạo điều hành, vận hành bộ máy quản lý nhà nƣớc và hệ thống chính trị cơ sở còn nhiều yếu kém. Đây là nhứng khó khăn rất lớn trong việc tiếp thu, quán triệt và triển khai các chủ trƣơng, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới trên địa bàn, địa phƣơng. Với những đặc điểm về tự nhiên, xã hội của miền núi và thực trạng về kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi là bức tranh tổng thể phản ánh khách quan những thuận lợi, khó khăn để các nhà nghiên cứu có đủ cơ sở thực tiễn và lý luận làm căn cứ cho việc ban hành các cơ chế chính sách đầu tƣ cho phát triển miền núi, kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi sát hợp, có tính khả thi cao nhằm khắc phục đƣợc khoảng cách giữa miền núi với đồng bằng, miền núi với đô thị.2- Vai trò của miền núi và kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi đối với nền kinh tế quốc dân: Với điều kiện về tự nhiên và xã hội đặc thù nhƣ vậy, miền núi và kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi có vai trò đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị và cả an ninh quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng đất nƣớc.
- Với diện tích rộng, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng. là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế trên các lĩnh vực công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến, kinh tế du lịch rừng - sinh thái, kinh tế trang trại, đồng thời là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong nƣớc và xuất khẩu. 10 - Với địa hình chia cắt, phức tạp, độ dốc lớn nên có điều kiện để xây dựng các công trình thủy điện lớn và nhỏ cung cấp một lƣợng điện năng rất lớn cho phát triển kinh tế của đất nƣớc và xây dựng hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cho phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn miền núi trong mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. - Diện tích miền núi lớn, trải dài trên toàn lãnh thổ của đất nƣớc, có đƣờng biên giới dài, tiếp giáp với nhiều nƣớc nên có vị trí chiến lƣợc về quân sự, quyết định về anh ninh quốc phòng để bảo vệ thành quả của đất nƣớc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Miền núi có 53 dân tộc với hơn 23 triệu ngƣời sinh sống. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, phong tục tập quán riêng đƣợc truyền giữ lâu đời. là những điều kiện quan trọng để xây dựng và phát triển một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc để mở rộng quan hệ giao lƣu với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. - Miền núi với điều kiện xuất phát thấp về đời sống kinh tế - văn hóa xã hội, tiềm năng lợi thế nhiều nhƣng cần phải có sự đầu tƣ rất lớn mới khai thác có hiệu quả, vì vậy có sự tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trƣởng và phát triển toàn diện, bền vững đối với phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn nói riêng, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc nói chung.
Do vậy, khi nghiên cứu để ban hành hệ thống cơ chế chính sách đầu tƣ cho phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn miền núi phải đƣợc đặt ra nghiên cứu trong đặc thù đặc biệt để sự đầu tƣ mang lại hiệu quả cao hơn.2- Chính sách phát triển kinh tế đối với nông nghiệp - nông thôn: 1.1- Khái niệm và phân loại các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn: * Khái niệm về chính sách kinh tế đối với nông nghiệp, nông thôn: Trong kinh tế học hiện tại, phạm trù chính sách kinh tế là đối tƣợng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô. Nhiệm vụ của chính sách kinh tế trong một 11 nền kinh tế hiện đại là tác động, điều chỉnh các bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế, đó là: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Các tác động điều chỉnh này phải tạo ra sự cân đối giữa cung và cầu trong xã hội. Từ đó, thúc đẩy kinh tế phát triển theo đúng mức tiềm năng của nó.
Có nhiều khái niệm về chính sách kinh tế nhƣng theo nhà kinh tế học Frane Ellis thì: "chính sách được xác định như là đường lối hành động mà chính phủ lựa chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả mục tiêu mà chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó". Theo định nghĩa này thì chính sách nông nghiệp là các biện pháp tác động, can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu đã lựa chọn. Cách định nghĩa và tiếp cận về chính sách kinh tế nói chung và chính sách nông nghiệp nói riêng của các nhà kinh tế quốc tế cũng phù hợp với cách tiếp cận của các nhà kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Theo Phó giáo sƣ, Tiến sỹ Lê Đình Thắng thì chính sách nông nghiệp đƣợc hiểu là: "tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phi kinh tế có liên quan đến nông nghiệp và các ngành có liên quan, nhằm tác động vào nông nghiệp theo những mục tiêu nhất định, trong một thời gian nhất định".
Sự tồn tại của một chính sách luôn luôn phục vụ cho một hoặc một vài mục tiêu nhất định. Vì vậy, chính sách sẽ trở nên vô nghĩa khi không có mục tiêu hoặc mục tiêu không rõ ràng.