Luận văn thạc sĩ vấn đề đổi mới việc thực hiện bảo hiểm y tế học sinh sinh viên trên báo in và báo điện tử ở việt nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề đổi mới việc thực hiện bảo hiểm y tế học sinh sinh viên trên báo in và báo điện tử ở việt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

144
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc phân tích cơ sở lý luậnthực tiễn của vấn đề đổi mới bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên trên báo inbáo điện tử tại Việt Nam. Nghiên cứu đã hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, và nguyên tắc của bảo hiểm y tế, đồng thời làm rõ sự phát triển và đổi mới trong chính sách bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên. Bên cạnh đó, chương cũng đề cập đến vai trò của báo chí trong việc truyền thông về chính sách này, đặc biệt là sự đóng góp của báo inbáo điện tử trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm y tế học sinh sinh viên

Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên là một chính sách quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe cho thế hệ trẻ. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chính sách này không chỉ giúp giảm gánh nặng tài chính cho gia đình mà còn góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách này vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong công tác truyền thông và nhận thức của phụ huynh.

1.2. Vai trò của báo chí trong truyền thông bảo hiểm y tế

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thông về chính sách bảo hiểm y tế. Thông qua các bài viết trên báo inbáo điện tử, báo chí đã giúp nâng cao nhận thức của công chúng về quyền lợi và lợi ích của bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, thông tin về chính sách này trên báo chí còn thiếu tính cập nhật và chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng.

II. Thực trạng thông tin đổi mới bảo hiểm y tế học sinh sinh viên trên báo in và báo điện tử

Chương này phân tích thực trạng thông tin về đổi mới bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên trên báo inbáo điện tử tại Việt Nam. Nghiên cứu đã khảo sát các cơ quan báo chí như Tạp chí Bảo hiểm xã hội, Báo điện tử Dantri, và Báo điện tử VnExpress. Kết quả cho thấy, số lượng bài viết về chủ đề này còn ít, chất lượng thông tin chưa cao, và tính cập nhật còn hạn chế. Đặc biệt, báo chí chưa làm tốt vai trò tuyên truyền, vận động để phụ huynh và học sinh hiểu rõ về lợi ích của bảo hiểm y tế.

2.1. Khảo sát các cơ quan báo chí

Nghiên cứu đã khảo sát các cơ quan báo chí như Tạp chí Bảo hiểm xã hội, Báo điện tử Dantri, và Báo điện tử VnExpress. Kết quả cho thấy, số lượng bài viết về bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên còn ít, và chất lượng thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu của công chúng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao chất lượng thông tin trên các phương tiện truyền thông.

2.2. Đánh giá thực trạng thông tin

Thực trạng thông tin về bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên trên báo inbáo điện tử còn nhiều hạn chế. Các bài viết thường thiếu tính cập nhật, thông tin chưa đầy đủ, và chưa phản ánh được những thay đổi mới nhất trong chính sách. Điều này làm giảm hiệu quả truyền thông và ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về quyền lợi bảo hiểm y tế.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin bảo hiểm y tế học sinh sinh viên

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên trên báo inbáo điện tử. Nghiên cứu nhấn mạnh việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong việc truyền thông về chính sách này. Đồng thời, cần đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục sức khỏe để phụ huynh và học sinh hiểu rõ về lợi ích của bảo hiểm y tế. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất việc đa dạng hóa nội dung và cải tiến hình thức chuyển tải thông tin để thu hút sự quan tâm của công chúng.

3.1. Nâng cao trách nhiệm của báo chí

Để nâng cao chất lượng thông tin về bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên, các cơ quan báo chí cần nâng cao trách nhiệm trong việc truyền thông. Điều này bao gồm việc cập nhật thông tin kịp thời, đảm bảo tính chính xác, và phản ánh đầy đủ những thay đổi mới nhất trong chính sách. Bên cạnh đó, báo chí cần chú trọng đến việc tuyên truyền, vận động để phụ huynh và học sinh hiểu rõ về quyền lợi bảo hiểm y tế.

3.2. Đa dạng hóa nội dung và hình thức chuyển tải

Việc đa dạng hóa nội dung và cải tiến hình thức chuyển tải thông tin là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút sự quan tâm của công chúng. Các cơ quan báo chí cần sử dụng nhiều hình thức truyền thông khác nhau như bài viết, infographic, video để truyền tải thông tin về bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên một cách hiệu quả. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo sự hứng thú cho độc giả.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ vấn đề đổi mới việc thực hiện bảo hiểm y tế học sinh sinh viên trên báo in và báo điện tử ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng thông tin đổi mới Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên trên báo in và báo điện tử ở nước ta. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên trên báo in và báo điện tử. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Những vấn đề chung về loại hình báo in và báo điện tử 1. Đặc điểm, đặc trưng của loại hình báo in. Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chí định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tải thông tin. Báo in bao gồm: báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn.

* Tính thời sự và tính định kỳ của báo in Báo in là ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội. Định kỳ của báo in có nhiều loại khác nhau như: hàng ngày, thưa kỳ (2,3,5 ngày một số), hàng tuần. Định kỳ của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định của sản phẩm báo. Chu kỳ xuất hiện của báo in có ý nghĩa quan trọng đối với báo in vì nó quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm báo in.

Ví dụ, cứ 6 giờ sáng hằng ngày người ta có thể mua các tờ nhật báo buổi sáng ở bất kỳ quầy bán báo nào trong thành phố. Nếu định kỳ của báo in bị phá vỡ có nghĩa là phá vỡ luôn cả thói quen mua (hay nhận) báo in vào giờ đó của người đọc và người đọc sẽ đi tìm phương tiện khác để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Tính thời sự của báo in được hiểu là sự phản ánh nhanh chóng những sự kiện mới xảy ra, vấn đề mới nảy sinh hoặc vừa mới được phát hiện trong đời sống xã hội. Sản phẩm báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội, từng loại báo, từng tờ báo in đều có đối tượng riêng.

Như vậy, mỗi một tờ báo in đều có công chúng tiếp nhận khác nhau, và công chúng thực hiện phương thức tiếp nhận theo những hướng khác nhau. 9 * Tiếp nhận thông tin chủ động Công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác – giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh nên người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in. Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc đến việc chủ động về tốc độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in cụ thể. Buổi sáng người ta có thể mua một tờ báo in của một cơ quan báo chí nào đó, đọc lướt qua các tin tức, bình luận quan trọng rồi chiều tối về nhà mới đọc tiếp những tờ báo dài và đáng quan tâm như phóng sự, phản ánh, tiểu luận, các loại bài ký… Khi đọc các tờ báo in, người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà đọc lần đầu chưa rõ.

Đặc điểm này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội dung sâu sắc, phức tạp. Nhà báo có thể trình bày, lí giải các nội dung thông tin với những mối quan hệ đan chéo, những biểu hiện trên nhiều bình diện, nhiều tầng nhiều lớp khác nhau. Những thông tin có thể được tổ chức theo nhiều cách khác nhau mà người đọc vẫn có thể hiểu, miễn là những thông tin, nội dung bài viết là bổ ích, đáp ứng được nhu cầu của người đọc. * Nội dung thông tin sâu Sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá trình chủ động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não.

Vì thế, làm tăng khả năng ghi nhớ thông tin, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói, báo phát thanh đưa tin, truyền hình diễn tả và báo in bình luận. Qua đó, có thể thấy rằng các loại hình báo chí có phương thức tác động tới công chúng khác nhau sẽ tạo ra những hiệu ứng khác nhau. Trong đó, báo in với sự tác động riêng biệt tới công chúng 10 tiếp nhận, đó là sự đồng hiện thông tin, sự tiếp nhận bằng thị giác, đưa thông tin trong sự bình luận đánh giá có chiều sâu, đã tạo nên sự sâu sắc trong truyền đạt thông tin và đã tác động mạnh mẽ vào tư duy của công chúng tiếp nhận.

Như vậy, nếu muốn chứng kiến tận mắt sự kiện, hiện tượng nào đó, người ta xem truyền hình. Và muốn đi tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ về nguyên nhân, kết quả, đánh giá về sự kiện, hiện tượng nào đó, thì người ta sẽ tìm đến với báo in. Như vậy có thể nói, việc đi sâu bình luận, đánh giá về một sự kiện, hiện tượng nào đó của báo in là một trong những ưu thế của báo in so với các loại hình truyền thông khác. * Về mặt kỹ thuật Về phương diện kỹ thuật, báo in đơn giản hơn rất nhiều so với các loại hình báo chí khác.

Việc dàn trang, chế bản báo in, chỉ cần một máy tính có cấu hình tương đối, phần mềm không đòi hỏi tích hợp đa phương tiện (thông dụng nhất hiện nay ở khu vực phía Nam là PageMaker 7.1), hình ảnh lại tĩnh, đã có thể chế bản báo và xuất phim thẳng cho nhà in. Trong khi đó, cả phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử đòi hỏi phải có các hệ thống máy móc kỹ thuật cao như máy phát sóng (phát thanh, truyền hình) hoặc server mạnh (báo mạng), sử dụng hình ảnh động (flash), âm thanh (voice, music), (đồ họa), video sinh động * Lưu trữ báo in đơn giản và thuận lợi Việc lưu trữ báo in phù hợp với thói quen của nhiều người đọc. Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối với người đọc. Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài (nguyên bản hoặc lưu giữ riêng những tin tức bài vở được quan tâm, dẫn liệu minh chứng trong các công trình nghiên cứu xã hội, lịch sử).

Báo in chỉ xuất hiện trong một thời điểm cụ thể và nhất định với nội dung thông tin đề cập các vấn đề, sự kiện trong cả một chu kỳ xuất bản. Thông tin về các vấn đề, sự kiện thời sự diễn ra trong chu kỳ sau đó chỉ có thể 11 được đề cập trong sản phẩm được xuất bản vào thời điểm định kỳ sau. Vì thế trong báo in bao giờ cũng tồn tại một khoảng thời gian trống thông tin, hay nói cách khác, độ nhanh, tính thời sự của báo in bị hạn chế hơn so với các loại hình phát thanh truyền hình và đặc biệt là báo mạng. Để khắc phục hạn chế này khi mà phát thanh và truyền hình chưa phát triển, người ta đưa ra các tờ báo buổi chiều.

Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có người biết chữ mới có thể đọc báo. Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có ưu thế hơn so với báo in khi mà hầu như tất cả các thành viên của xã hội bất kể trình độ văn hoá như thế nào đều có thể tiếp nhận thông tin do chúng mang lại. Việc phát hành báo in được thực hiện theo phương thức trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo. Đối với các nước chậm phát triển, báo in chủ yếu chỉ được phát hành ở các thành phố, thị trấn đông dân cư, thuận lợi về giao thông đi lại.

Ở các địa phương xa trung tâm, báo in thường đến muộn, tin tức trở thành lạc hậu. Vì thế ở khu vực này, ảnh hưởng của thông tin từ báo in rất hạn chế. Đối với những người đi công tác xa theo những lộ trình đặc biệt, như các đoàn khảo sát địa chất, các đoàn thám hiểm địa lý, phục vụ trên các con tàu trên đại dương… việc phát hành báo in hầu như không thể thực hiện được. *Sự tương tác với độc giả Tính tương tác giúp rút ngắn khoảng cách giữa báo chí và công chúng, khiến những vấn đề xã hội được nhìn nhận một cách khách quan trên nhiều bình diện.

Tuy nhiên, đây lại là một hạn chế đối với báo in bởi sự phản hồi của người đọc phải trải qua nhiều khâu, thậm chí cần phải có đơn khiếu nại bài báo. Trong khi đối với phát thanh, truyền hình và báo mạng, tính tương tác giữa toà soạn và công chúng rất cao, chỉ cần gọi điện thoại đến đài (phát 12 thanh, truyền hình), comment hay gửi mail (báo mạng) là toà soạn đã tiếp nhận phản hồi của công chúng. Đặc điểm, đặc trưng của báo điện tử Báo điện tử đang là phương tiện truyền thông đại chúng hữu hiệu trong việc truyền tải thông tin đến công chúng. Cùng với các loại hình truyền thông khác, nó đã và đang đóng góp rất lớn vào việc làm phong phú thêm đời sống thông tin của mọi người.

So với các phương tiện truyền thông đại chúng khác thì báo mạng điện tử có những đặc điểm vượt trội hơn như khả năng tương tác cao – sự tương tác qua lại giữa người dân và báo điện tử rất cao, khả năng đa phương tiện, tính thời sự cao vì khả năng tiếp cận và truyền đạt thông tin rất nhanh chóng, ngoài ra báo điện tử còn có khả năng tìm kiếm thông tin và lưu giữ thông tin tốt nhất. Báo điện tử có những đặc điểm sau đây: *Tính thời sự và tính phi định kỳ Với báo in, như chúng ta đã biết, kỳ phát hành tối đa chỉ dừng lại ba lần một ngày. Báo điện tử đã vượt qua những rào cản về mặt không gian, thời gian và tỏ rõ tính linh hoạt, năng động có một không hai. Báo điện tử không mất thời gian chuẩn bị kích rích, không bị chậm trễ do phải trải qua khâu in ấn và tổ chức phát hành.

Điều này giúp cho tính thời sự của báo điện tử cao hơn báo in rất nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đổi mới bảo hiểm y tế học sinh sinh viên trên báo in và báo điện tử tại Việt Nam là tài liệu phân tích sâu về những cải cách trong chính sách bảo hiểm y tế dành cho học sinh, sinh viên, được truyền tải qua cả hai hình thức báo in và báo điện tử. Tài liệu này không chỉ làm rõ những thay đổi cụ thể trong chính sách mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi bảo hiểm y tế. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách các phương tiện truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa thông tin và tác động đến nhận thức của xã hội.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến giáo dục và chính sách, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh về những trở ngại khi thuyết trình, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu sắc về những thách thức trong môi trường học tập. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ xây dựng mô hình câu lạc bộ thể thao giải trí cho sinh viên sẽ giúp bạn hiểu thêm về các giải pháp nâng cao đời sống sinh viên. Cuối cùng, Developing discussion skills for EFL second year students là tài liệu hữu ích để cải thiện kỹ năng thảo luận trong môi trường học thuật.