Đô Thị Hóa Thành Phố Tam Kỳ, Quảng Nam Giai Đoạn 1997-2017: Luận Văn Thạc Sĩ

Đô thị hóa Tam Kỳ, Quảng Nam (1997-2017): Phân tích quá trình phát triển đô thị, những thay đổi về kinh tế, xã hội và không gian kiến trúc trong giai đoạn này.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

142
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRANG THÔNG TIN TIẾNG ANH

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

prefix.1. Lý do chọn đề tài

prefix.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

prefix.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

prefix.5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

prefix.6. Đóng góp của luận văn

prefix.7. Kết cấu của luận văn

1. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ TAM KỲ TRƯỚC NĂM 1997

1.1. Một số vấn đề về đô thị hóa

1.1.1. Khái niệm và chức năng của đô thị

1.1.2. Khái niệm đô thị hóa

1.1.3. Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị

1.1.4. Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

1.2. Tổng quan về thành phố Tam Kỳ trước năm 1997

1.2.1. Điều kiện tự nhiên của thành phố Tam Kỳ

1.2.2. Sơ lược lịch sử Tam Kỳ từ lúc hình thành đến năm 1997

1.3. Tiểu kết chương 1

2. Chương 2: QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA THÀNH PHỐ TAM KỲ (1997-2017)

2.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương phát triển đô thị Tam Kỳ

2.1.1. Bối cảnh lịch sử thành phố Tam Kỳ

2.1.2. Chủ trương phát triển đô thị Tam Kỳ

2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng và chuyển biến về kinh tế

2.2.1. Xây dựng cơ sở hạ tầng

2.2.2. Chuyển biến kinh tế

2.3. Sự thay đổi môi trường và cảnh quan đô thị

2.4. Chuyển biến về dân số, lao động và văn hóa-xã hội

2.4.1. Sự chuyển biến về dân số, cơ cấu lao động

2.4.2. Sự chuyển biến trong lĩnh vực giáo dục

2.4.3. Sự chuyển biến trong lĩnh vực y tế

2.4.4. Sự chuyển biến trong lĩnh vực văn hóa

2.5. Giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình đô thị hóa

2.6. Tiểu kết chương 2

3. Chương 3: ĐẶC ĐIỂM, TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TAM KỲ (1997-2017)

3.1. Đặc điểm quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ

3.1.1. Đô thị hóa thành phố Tam Kỳ diễn ra mạnh mẽ và chia thành giai đoạn

3.1.2. Tốc độ tăng dân số trong quá trình đô thị hóa chậm hơn so với các thành phố cùng cấp

3.1.3. Quá trình đô thị hóa và phát triển gắn với bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa

3.1.4. Quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ biết kết hợp lợi thế tự nhiên gắn phát triển đô thị xanh

3.2. Tác động của quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ

3.2.1. Đô thị hóa thành phố Tam Kỳ đã tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố

3.2.2. Đô thị hóa thành phố Tam Kỳ góp phần tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

3.2.3. Đô thị hóa góp phần phổ quát lối sống kiểu đô thị đến người dân

3.2.4. Đô thị hóa tác động tiêu cực đến xã hội và môi trường cảnh quan của thành phố Tam Kỳ

3.3. Bài học lịch sử phát triển của quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ

3.3.1. Cần thực hiện tốt tầm nhìn chiến lược phát triển gắn với quy hoạch đô thị thành phố Tam Kỳ

3.3.2. Phát triển đô thị thành phố Tam Kỳ gắn liền với đảm bảo quốc phòng an ninh

3.3.3. Phát triển đô thị thành phố Tam Kỳ theo hướng đồng bộ, hiện đại, văn minh, thân thiện với môi trường

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

Tóm tắt

I. Tổng quan Đô Thị Hóa Tam Kỳ 1997 2017 Hành Trình Bối Cảnh

Quá trình đô thị hóa Tam Kỳ từ năm 1997 đến 2017 là một minh chứng rõ nét cho sự chuyển mình mạnh mẽ của một đô thị trẻ tại miền Trung Việt Nam. Sau khi tái lập tỉnh Quảng Nam vào năm 1997, Tam Kỳ, với vị thế là tỉnh lỵ mới, đã đối mặt với những thách thức to lớn nhưng cũng nắm bắt cơ hội phát triển vượt bậc. Sự kiện này không chỉ mang lại cho Tam Kỳ một "vị thế mới" mà còn tạo ra "những thời cơ và điều kiện để nhanh chóng phát triển" [2, tr.34].

Giai đoạn 1997-2017 chứng kiến biến đổi đô thị Tam Kỳ trên nhiều phương diện, từ kinh tế, xã hội đến cơ sở hạ tầng. Xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy quá trình phát triển đô thị Tam Kỳ diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật đặc trưng quá trình đô thị hóa của thành phố, từ đó đề xuất hướng phát triển phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội đối với thành phố Tam Kỳ trong những năm tiếp theo [Luận văn, tr.iii]. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Hợi về "Đô thị hóa thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (1997–2017)" cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình này, làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn, vai trò, tác động, và bài học lịch sử phát triển của quá trình đô thị hóa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, đời sống, văn hóa-xã hội, cảnh quan môi trường của thành phố Tam Kỳ [Luận văn, tr.v].

Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quan trọng đối với những đô thị đang phát triển có tính chất tương đồng với Tam Kỳ. Việc phân tích quá trình đô thị hóa Tam Kỳ trên các phương diện kinh tế, văn hóa - xã hội, dân số, môi trường cảnh quan, và rút ra những bài học lịch sử là trọng tâm [Luận văn, tr.v]. Đây là nền tảng để hiểu rõ đặc điểm đô thị hóa miền Trung và những yếu tố đặc thù riêng biệt đã định hình sự phát triển của Tam Kỳ trong hai thập kỷ quan trọng này. Toàn bộ hành trình Đô Thị Hóa Tam Kỳ, Quảng Nam (1997-2017) phản ánh sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cả hệ thống chính trị và người dân địa phương.

1.1. Lịch sử phát triển Tam Kỳ trước 1997 và Bối cảnh tái lập tỉnh Quảng Nam

Lịch sử phát triển Tam Kỳ bắt đầu từ thời kỳ nhà Hồ (1402-1407), khi vùng đất này thuộc huyện Vạn Yên của Châu Hoa [94, tr.21]. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đến năm 1907, vua Thành Thái đã ra chỉ dụ nâng huyện Hà Đông lên thành Phủ Tam Kỳ, bao gồm cả thị xã Tam Kỳ, huyện Núi Thành, Tiên Phước, Trà My và Phước Sơn ngày nay [94, tr.22]. Thị trấn Tam Kỳ chính thức ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945, và lần đầu tiên trở thành thị xã tỉnh lỵ Quảng Nam vào năm 1951 trong kháng chiến chống Pháp [2, tr.22].

Sau năm 1975, huyện Tam Kỳ được tái lập, và đến ngày 03-12-1983, Hội đồng Bộ trưởng quyết định chia tách huyện Tam Kỳ thành thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành [2, tr.23]. Tuy nhiên, bối cảnh lịch sử quan trọng nhất cho nghiên cứu này là sự kiện ngày 15-11-1996, Quốc hội khóa IX ban hành Nghị quyết về việc chia tách Quảng Nam-Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Theo đó, tỉnh Quảng Nam có 14 đơn vị hành chính trực thuộc và tỉnh lỵ đóng tại thị xã Tam Kỳ [2, tr.33]. Ngày 21-02-1997, lễ đón tiếp các cơ quan của tỉnh Quảng Nam từ Đà Nẵng về Tam Kỳ đã đánh dấu một chương mới, tạo tiền đề cho quá trình đô thị hóa Tam Kỳ diễn ra mạnh mẽ. Sự kiện này đã định hình một lộ trình phát triển mới cho Tam Kỳ, đòi hỏi thị xã phải "vươn lên đáp ứng yêu cầu, tầm vóc của một thị xã tỉnh lỵ" [2, tr.34].

1.2. Thực trạng khởi đầu Diện mạo Tam Kỳ trước 1997 và những thách thức

Trước năm 1997, diện mạo đô thị Tam Kỳ còn khá khiêm tốn. Theo đánh giá, Tam Kỳ là "một đô thị chậm phát triển so với nhiều thành phố trẻ hơn trên đất nước ta", thậm chí "không có nổi một ngã tư" [14, tr.31]. Dân số thời điểm đó khoảng 164.585 người (bao gồm cả Tam Kỳ và Phú Ninh hiện nay), chủ yếu là cư dân nông thôn và hoạt động nông nghiệp [14, tr.31].

Hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém, thiếu đồng bộ. Toàn thị xã chỉ có 12 tuyến đường (không kể Quốc lộ 1 và tỉnh lộ 615, 616), với chỉ một số tuyến được rải nhựa, còn lại chủ yếu là đường đất đá. Kiến trúc đô thị nghèo nàn, chỉ có một số tòa nhà 2-3 tầng và các công trình hành chính cơ bản [14, tr.31]. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp thuần túy, giá trị hàng hóa thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm [2, tr.30].

Những thách thức đô thị hóa Tam Kỳ trước mắt bao gồm tỷ lệ nghèo đói cao, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, trình độ dân trí và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển [2, tr.34]. Đặc biệt, Tam Kỳ còn phải đối mặt với thiên tai như lũ lụt lớn năm 1999, gây thiệt hại nặng nề cho đời sống và cơ sở hạ tầng [2, tr.34]. Những khó khăn này đòi hỏi một nỗ lực vượt bậc để phát triển đô thị Tam Kỳ xứng tầm với vị thế tỉnh lỵ.

II. Cách Tam Kỳ Vượt Qua Thách Thức Đô Thị Hóa Giai Đoạn 1997 2017

Để vượt qua những hạn chế và thách thức đô thị hóa Tam Kỳ ban đầu, thành phố đã áp dụng nhiều giải pháp chiến lược và chính sách đồng bộ. Bối cảnh trở thành tỉnh lỵ mới đã tạo ra động lực to lớn, thúc đẩy chính quyền và nhân dân địa phương nỗ lực "khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật của tỉnh nhà" [2, tr.33]. Các chủ trương từ Trung ương và tỉnh Quảng Nam đóng vai trò then chốt trong việc định hình con đường phát triển đô thị Tam Kỳ.

Sự quan tâm đầu tư từ cấp trên đã giúp Tam Kỳ tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các công trình văn hóa và phúc lợi xã hội với tốc độ nhanh chóng. Điều này không chỉ tạo ra động lực kinh tế-xã hội mà còn nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân [2, tr.36]. Việc tập trung đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, trí thức, và lao động lành nghề đã cung cấp nguồn nhân lực chất lượng, mở ra nhiều khả năng mới cho sự phát triển toàn diện của thị xã [2, tr.36].

Các nghị quyết và quyết định về quy hoạch đô thị Tam Kỳ 1997-2017 đã được ban hành và triển khai một cách quyết liệt, làm cơ sở cho việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng [2, tr.29]. Công tác quản lý đô thị Tam Kỳ, tài nguyên và môi trường cũng được tăng cường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và hướng tới xây dựng "đô thị xanh" [2, tr.39]. Điều này thể hiện tầm nhìn dài hạn và cam kết của Tam Kỳ đối với một quá trình đô thị hóa bền vững. Những nỗ lực này đã giúp Tam Kỳ chuyển mình từ một thị xã nghèo khó thành một đô thị năng động, từng bước khẳng định vị thế của mình trong khu vực.

2.1. Chính sách phát triển Tam Kỳ Chủ trương của Trung ương và tỉnh

Các chính sách phát triển Tam Kỳ được định hướng rõ ràng từ Trung ương và cấp tỉnh. Ngày 15-11-1996, Quốc hội ban hành Nghị quyết chia tách Quảng Nam-Đà Nẵng, đặt Tam Kỳ làm tỉnh lỵ. Các văn bản sau đó, như Nghị định số 01/2005/NĐ-CP của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính, hay Quyết định số 108/2003/QĐ-TTg về thành lập Khu kinh tế mở Chu Lai, đã tạo khuôn khổ pháp lý và động lực kinh tế cho Tam Kỳ [2, tr.35-36]. Khu kinh tế mở Chu Lai, bao gồm các xã phía Đông Tam Kỳ, đã tạo "thế và lực mới cho ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và du lịch Tam Kỳ phát triển nhanh hơn" [2, tr.34].

Ở cấp tỉnh, Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 02-4-2003 về "Phương hướng, nhiệm vụ phát triển thị xã Tam Kỳ và Hội An đến năm 2010", với mục tiêu đưa Tam Kỳ thành đô thị loại III vào năm 2005 và thành phố trực thuộc tỉnh vào năm 2010 [2, tr.37]. Để thực hiện mục tiêu này, các chương trình hành động đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Công tác quản lý đô thị Tam Kỳ cũng được chú trọng thông qua các quy định, quyết định phê duyệt quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết cho từng khu vực, hướng tới mục tiêu "đô thị xanh" và phát triển bền vững Tam Kỳ [2, tr.38].

2.2. Quy hoạch đô thị Tam Kỳ 1997 2017 Định hướng không gian và sử dụng đất

Công tác quy hoạch đô thị Tam Kỳ 1997-2017 là nền tảng cho sự phát triển. Ngay từ đầu năm 2001, Thị ủy đã chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch và phân vùng kinh tế phù hợp với điều kiện mới [2, tr.39]. Quy hoạch tập trung vào việc tận dụng lợi thế địa hình, phân chia các vùng theo định hướng phát triển chuyên biệt: vùng cát phát triển thủy sản và du lịch; vùng núi và trung du phát triển kinh tế vườn-rừng; vùng đồng bằng tập trung cây lương thực, công nghiệp ngắn ngày; và vùng đô thị đẩy mạnh công nghiệp, thương mại-dịch vụ [2, tr.39].

Các quyết định của UBND tỉnh Quảng Nam về quy hoạch chi tiết các khu vực Bắc, Nam và trung tâm thị xã Tam Kỳ (Quyết định 3384-QĐ/UBND năm 2000, Quyết định 1822-QĐ/UBND năm 2000) đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc sử dụng đất Tam Kỳ một cách hiệu quả [2, tr.37]. Quy hoạch cũng bao gồm việc thông qua đề cương điều chỉnh bổ sung quy hoạch nội thị, phát triển đô thị về phía Đông, và hoàn thành quy hoạch chi tiết một số xã, phường. Các khu trung tâm hành chính, cụm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, và các khu đô thị mới Tam Kỳ cũng được quy hoạch chi tiết [2, tr.39-40]. Những định hướng không gian và sử dụng đất Tam Kỳ này đã góp phần định hình diện mạo và tạo đà cho phát triển đô thị Tam Kỳ trong giai đoạn hai thập kỷ.

III. Bí Quyết Phát Triển Hạ Tầng Đô Thị Tam Kỳ 1997 2017 Hiệu Quả

Thành công của quá trình Đô Thị Hóa Tam Kỳ, Quảng Nam (1997-2017) không thể tách rời khỏi việc đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng. Đây là "bí quyết" để chuyển hóa diện mạo đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Ngay từ khi trở thành tỉnh lỵ, công tác xây dựng kết cấu hạ tầng đã được xác định là "một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách" [2, tr.29]. Điều này được thể hiện qua việc huy động và thu hút các nguồn lực đa dạng, không chỉ vốn nhà nước mà còn từ doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế (ODA), và đóng góp của nhân dân [2, tr.40].

Tổng vốn đầu tư toàn thành phố chỉ trong 5 năm (2010-2015) đã đạt 7.200 tỷ đồng, chứng tỏ sự ưu tiên và quyết tâm lớn trong việc cải thiện hạ tầng Tam Kỳ phát triển [2, tr.40]. Các công trình giao thông, thủy lợi, hạ tầng công nghiệp, đô thị và nông thôn, y tế giáo dục đã được đầu tư, đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả, làm cho "kết cấu hạ tầng đô thị ngày càng hoàn thiện" [2, tr.40].

Đặc biệt, việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị theo hướng đạt tiêu chuẩn đô thị loại II là một mục tiêu xuyên suốt. Đến năm 2016, Tam Kỳ đã đạt 41/49 tiêu chí đô thị loại II, tương ứng 84,4 điểm, cao hơn mức quy định là 70 điểm [120, tr.40]. Điều này minh chứng cho sự hiệu quả trong chiến lược đầu tư và triển khai các dự án hạ tầng. Quá trình này đã góp phần đáng kể vào biến đổi đô thị Tam Kỳ, không chỉ về quy mô mà còn về chất lượng sống cho người dân, đặt nền móng vững chắc cho phát triển bền vững Tam Kỳ trong tương lai.

3.1. Nâng cấp và mở rộng hạ tầng Tam Kỳ phát triển Các công trình trọng điểm

Trong giai đoạn 1997-2017, hạ tầng Tam Kỳ phát triển đã chứng kiến sự đầu tư lớn. Đến cuối năm 1996, thị xã đã chi hơn 26 tỷ đồng để xây dựng các tuyến đường quan trọng như Tam Kỳ-Tam Thanh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Đình Phùng, Trần Văn Dư, Nguyễn Du [2, tr.29]. Giai đoạn 2010-2015, tổng vốn đầu tư toàn thành phố là 7.200 tỷ đồng [2, tr.40].

Nhiều công trình trọng điểm đã hoàn thành, tạo nên diện mạo mới cho thị xã. Đó là đường Nguyễn Thái Học-Trần Dư, đường Trần Cao Vân, cầu Kỳ Trung, đường Tam Kỳ-Tam Vinh, đường nối Quốc lộ 1A-Trung tâm Thể dục thể thao tỉnh, và đường Thanh niên ven biển [2, tr.40]. Điện, bưu điện, giao thông vận tải không ngừng được mở rộng [2, tr.27]. Đến năm 1996, 20/20 xã, phường có điện với gần 85% hộ dân được dùng điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt [2, tr.30]. Việc xây dựng và nâng cấp các cơ sở hạ tầng này không chỉ phục vụ sản xuất và đời sống mà còn tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển đô thị Tam Kỳ theo hướng hiện đại.

3.2. Sự hình thành các khu đô thị mới Tam Kỳ và biến đổi đô thị

Một trong những yếu tố quan trọng trong biến đổi đô thị Tam Kỳ là sự hình thành và phát triển của các khu đô thị mới Tam Kỳ. Từ cuối năm 1996, thị xã đã lập 25 dự án mới để phục vụ việc nâng cấp, mở rộng các tuyến đường giao thông, hệ thống điện nước, và các khu dân cư [2, tr.29]. Các khu đô thị mới như Hòa Hương, An Sơn đã được quy hoạch, cùng với việc quy hoạch các khu dân cư và tái định cư với diện tích gần 100ha [2, tr.40].

Quá trình này không chỉ mở rộng không gian đô thị mà còn thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức, không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị [84, tr.11]. Sự gia tăng xây dựng các dịch vụ hạ tầng và dịch vụ cơ sở mang phong cách thành thị, cùng với việc chuyển dịch đất nông nghiệp thành khu công nghiệp và các khu dân cư, đã làm cho Tam Kỳ trở thành một đô thị năng động hơn. Những thay đổi này góp phần vào việc tăng mật độ dân số Tam Kỳ ở các khu vực trung tâm và tạo ra một môi trường sống đa dạng, hiện đại hơn.

IV. Phân Tích Kinh Tế Tam Kỳ 1997 2017 Biến Đổi Tác Động Đô Thị Hóa

Giai đoạn Đô Thị Hóa Tam Kỳ, Quảng Nam (1997-2017) đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế của thành phố. Từ một nền nông nghiệp thuần túy, Tam Kỳ đã từng bước chuyển mình sang mô hình kinh tế đa ngành, nơi công nghiệp, thương mại và dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng. Sự chuyển dịch này là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hóa và các chính sách phát triển đồng bộ [2, tr.30].

Kinh tế Tam Kỳ giai đoạn 1997-2017 đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Tam Kỳ tăng bình quân hàng năm từ 7-12%, với các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, lâm ngư nghiệp đều có bước phát triển khá [2, tr.30]. Điều này khẳng định vai trò động lực của đô thị hóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân. Việc thu hút đầu tư, cả trong và ngoài nước, cũng góp phần tạo ra nhiều việc làm và cải thiện đời sống.

Đô thị hóa không chỉ tác động đến kinh tế mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến dân số và cơ cấu lao động. Sự gia tăng dân số đô thị và xu hướng di dân nông thôn thành thị Tam Kỳ đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong cơ cấu nghề nghiệp và lối sống của cư dân. Những thay đổi này đòi hỏi Tam Kỳ phải có những giải pháp linh hoạt để quản lý và tối ưu hóa nguồn lực, đảm bảo phát triển bền vững Tam Kỳ trong bối cảnh mới.

4.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tam Kỳ giai đoạn 1997 2017 và tăng trưởng GDP

Kinh tế Tam Kỳ giai đoạn 1997-2017 chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu rõ rệt. Từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, thị xã đã đặt mục tiêu "chuyển dịch dần sang công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-nông nghiệp-thương mại-dịch vụ và du lịch" [2, tr.28]. Mục tiêu đến năm 2000 là đạt 51% giá trị từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại và du lịch; 49% từ nông nghiệp [2, tr.28]. Đến cuối năm 1996, thị xã đã có 11 doanh nghiệp nhà nước giải quyết việc làm cho hơn 1.600 lao động; 6 doanh nghiệp tư nhân, 4 hợp tác xã, 3 tổ hợp tác và 976 cơ sở sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp thu hút 3.390 lao động [2, tr.29].

Nghị quyết số 01/NQ-TV của Thị ủy năm 1996 đã tập trung huy động và thu hút các nguồn lực để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chế biến nguyên liệu nông-lâm-thủy sản, và các ngành dịch vụ [2, tr.29]. Nhờ đó, tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn vượt mức kế hoạch, đạt 55,61 tỷ đồng năm 1996, tăng 22% so với năm 1995 [2, tr.29]. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của thị xã Tam Kỳ đạt từ 13-14%, sau đó điều chỉnh lên 15% [2, tr.37]. Sự tăng trưởng này đã góp phần đáng kể vào sự phát triển đô thị Tam Kỳ và nâng cao đời sống nhân dân.

4.2. Tác động của Đô thị hóa đến dân số lao động và di dân nông thôn thành thị Tam Kỳ

Quá trình đô thị hóa Tam Kỳ đã tác động sâu sắc đến dân số và cơ cấu lao động. Dân số thành thị tăng nhanh theo quá trình đô thị hóa và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng dân số thành phố, từ 71,95% năm 2005 lên gần 75,6% năm 2010 [25, tr.24]. Đến năm 2017, dân số thành phố là 113.677 người, với dân số thành thị chiếm 77% [25, tr.24].

Mật độ dân số Tam Kỳ cũng tăng lên, đạt 1.167 người/km2 năm 2010, với các phường trung tâm như An Xuân, Phước Hòa, An Mỹ có mật độ rất cao (10.394 người/km2, 8.008 người/km2, 7.497 người/km2 tương ứng) [25, tr.24]. Sự gia tăng dân số đô thị kéo theo hiện tượng di dân nông thôn thành thị Tam Kỳ, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ [2, tr.39]. Điều này tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần phổ quát lối sống kiểu đô thị [Luận văn, tr.vi]. Tuy nhiên, cũng đặt ra thách thức đô thị hóa Tam Kỳ trong việc giải quyết việc làm, nhà ở và các vấn đề xã hội khác [2, tr.34].

V. Đặc Điểm Ảnh Hưởng Đô Thị Hóa Tam Kỳ 1997 2017 Bài Học Quý

Quá trình Đô Thị Hóa Tam Kỳ, Quảng Nam (1997-2017) không chỉ là một hành trình phát triển mà còn là một kho tàng kinh nghiệm, mang đến những bài học quý giá. Đặc điểm đô thị hóa miền Trung nói chung và Tam Kỳ nói riêng đã làm nổi bật những nét đặc trưng độc đáo, phản ánh sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa [Luận văn, tr.iii]. Thành phố đã trải qua một quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, nhưng vẫn giữ được tốc độ tăng dân số chậm hơn so với một số thành phố cùng cấp, cho phép kiểm soát tốt hơn các vấn đề xã hội và môi trường [Luận văn, tr.vi].

Những ảnh hưởng đô thị hóa Tam Kỳ được ghi nhận trên nhiều lĩnh vực, từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến thay đổi đời sống xã hội và cảnh quan môi trường. Thành công trong việc tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, cùng với việc phổ quát lối sống đô thị, là những điểm sáng [Luận văn, tr.vi]. Tuy nhiên, cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội, đặt ra yêu cầu về quản lý đô thị Tam Kỳ hiệu quả hơn trong tương lai [Luận văn, tr.vi].

Việc nhận diện và phân tích những đặc điểm, tác động này là cơ sở để rút ra các "bài học lịch sử phát triển" [Luận văn, tr.v]. Những bài học này không chỉ quan trọng cho Tam Kỳ mà còn là tài liệu tham khảo ý nghĩa cho các đô thị khác đang phát triển có tính chất tương đồng. Qua đó, Tam Kỳ có thể tiếp tục xây dựng và phát triển bền vững Tam Kỳ, hướng tới một đô thị thông minh và xanh, giữ vững những giá trị cốt lõi của mình.

5.1. Đặc điểm đô thị hóa miền Trung và riêng của Tam Kỳ Tốc độ và phát triển

Đặc điểm đô thị hóa miền Trung thường gắn liền với yếu tố địa lý, lịch sử, và tác động của biến đổi khí hậu. Tam Kỳ, với vị trí là trung tâm tỉnh lỵ và nằm trên các trục giao thông huyết mạch, đã thể hiện những đặc điểm riêng biệt trong quá trình đô thị hóa. Thứ nhất, quá trình phát triển đô thị Tam Kỳ diễn ra mạnh mẽ và được chia thành các giai đoạn rõ rệt, gắn liền với các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước [Luận văn, tr.vi].

Thứ hai, tốc độ đô thị hóa Quảng Nam nói chung và Tam Kỳ nói riêng, được thể hiện qua tốc độ tăng dân số, có phần chậm hơn so với một số thành phố cùng cấp [Luận văn, tr.vi]. Điều này có thể là một lợi thế, giúp Tam Kỳ có thêm thời gian để điều chỉnh quy hoạch, đầu tư hạ tầng đồng bộ hơn. Thứ ba, quá trình đô thị hóa ở Tam Kỳ luôn gắn liền với việc bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa, và nỗ lực phát triển đô thị xanh, tận dụng lợi thế tự nhiên [Luận văn, tr.vi]. Điều này giúp Tam Kỳ duy trì được bản sắc riêng biệt, tránh những tác động tiêu cực quá mức của đô thị hóa nhanh.

Đến năm 2006, Tam Kỳ được công nhận là đô thị loại III và trở thành thành phố trực thuộc tỉnh, sau đó Tam Kỳ trở thành đô thị loại II vào năm 2016 [Luận văn, tr.24]. Những mốc son này khẳng định sự trưởng thành vượt bậc và vị thế ngày càng nâng cao của Tam Kỳ trong hệ thống đô thị quốc gia.

5.2. Ảnh hưởng đô thị hóa Tam Kỳ đến xã hội văn hóa và môi trường đô thị

Những ảnh hưởng đô thị hóa Tam Kỳ đã tác động đa chiều đến xã hội, văn hóa và môi trường. Về xã hội, đô thị hóa góp phần tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập, và phổ quát lối sống đô thị [Luận văn, tr.vi]. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa cũng có những chuyển biến tích cực, với việc mở rộng mạng lưới trường học, cơ sở y tế, và các hoạt động văn hóa, thể thao [2, tr.30].

Tuy nhiên, quá trình này cũng mang lại những thách thức. Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động vùng bị thu hồi đất sản xuất, thiếu nhà ở, và nguy cơ đô thị hóa tự phát là những lo ngại [Luận văn, tr.vi]. Về văn hóa, đô thị hóa có thể tác động đến việc bảo tồn bản sắc địa phương, mặc dù Tam Kỳ đã nỗ lực kết hợp phát triển với gìn giữ giá trị văn hóa cốt lõi [Luận văn, tr.iii].

Đối với môi trường đô thị Tam Kỳ, đô thị hóa đã gây ra một số tác động tiêu cực như ô nhiễm môi trường (không khí, nước, chất thải) và ảnh hưởng đến cảnh quan. Thêm vào đó, vị trí địa lý của Tam Kỳ khiến thành phố thường xuyên phải đối mặt với bão, lũ lụt, và xâm nhập mặn, làm gia tăng thách thức đô thị hóa Tam Kỳ trong việc quản lý tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu [Luận văn, tr.20]. Những tác động này đòi hỏi các giải pháp đô thị hóa bền vững Tam Kỳ để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ môi trường sống.

VI. Tương Lai Phát Triển Bền Vững Đô Thị Tam Kỳ Sau 2017 Kiến Nghị

Sau hai thập kỷ phát triển vượt bậc, hành trình Đô Thị Hóa Tam Kỳ, Quảng Nam (1997-2017) đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng, nhưng cũng đặt ra những vấn đề cần được tiếp tục giải quyết để hướng tới một tương lai bền vững. Việc tổng kết các thành tựu và nhìn nhận các thách thức đô thị hóa Tam Kỳ là tiền đề để định hình các chiến lược phát triển tiếp theo. Tam Kỳ đã chứng tỏ khả năng "tự đứng vững được trước những khó khăn, thử thách để vươn lên và phát triển" [2, tr.31], và tinh thần này cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa.

Từ một thị xã nghèo với nền nông nghiệp thuần túy, Tam Kỳ đã chuyển mình thành một đô thị năng động, với kinh tế đa ngành và cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể. Việc Tam Kỳ trở thành đô thị loại II vào năm 2016 là một minh chứng rõ ràng cho sự phát triển về chất và tầm vóc của thành phố. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế về chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chất lượng hạ tầng chưa đồng bộ, và các vấn đề xã hội như đói nghèo, môi trường [2, tr.30-31].

Để đảm bảo phát triển bền vững Tam Kỳ trong những năm tới, cần có một tầm nhìn chiến lược dài hạn và các giải pháp đô thị hóa bền vững Tam Kỳ được triển khai một cách đồng bộ. Mục tiêu vươn lên trở thành thành phố loại I trực thuộc tỉnh trước năm 2030 đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa xu thế phát triển đô thị hiện đại và gìn giữ những giá trị văn hóa cốt lõi [Luận văn, tr.7]. Các kiến nghị phát triển sẽ tập trung vào việc củng cố kinh tế, nâng cao chất lượng sống, bảo vệ môi trường, và tăng cường năng lực quản lý đô thị.

6.1. Thành tựu và thách thức đô thị hóa Tam Kỳ Từ đô thị loại III đến Tam Kỳ trở thành đô thị loại II

Trong giai đoạn 1997-2017, Đô thị hóa Tam Kỳ đạt nhiều thành tựu nổi bật. Từ việc chỉ là một thị xã nghèo, Tam Kỳ đã thành công trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng và cải thiện đáng kể hạ tầng Tam Kỳ phát triển [2, tr.30]. Năm 2006, thị xã Tam Kỳ được công nhận là đô thị loại III và trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam [94, tr.24]. Mười năm sau, vào năm 2016, Tam Kỳ trở thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh, đánh dấu một bước tiến lớn về tầm vóc và vị thế [94, tr.24].

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, thách thức đô thị hóa Tam Kỳ vẫn còn hiện hữu. Kinh tế Tam Kỳ dù có chuyển dịch nhưng vẫn chưa thực sự mạnh mẽ, tỷ trọng nông nghiệp còn cao, và thương mại, dịch vụ còn yếu [2, tr.30]. Hạ tầng đô thị tuy có cải thiện nhưng vẫn thiếu đồng bộ, đặc biệt ở khu vực nông thôn [2, tr.30]. Các vấn đề xã hội như tỷ lệ đói nghèo, cơ sở y tế xuống cấp, và công tác xây dựng Đảng chưa toàn diện cũng là những hạn chế cần khắc phục [2, tr.30-31]. Việc đối mặt với biến đổi khí hậu cũng là một thách thức đô thị hóa Tam Kỳ lớn, đòi hỏi các giải pháp lâu dài và bền vững.

6.2. Giải pháp đô thị hóa bền vững Tam Kỳ và tầm nhìn phát triển bền vững Tam Kỳ

Để đảm bảo phát triển bền vững Tam Kỳ, các giải pháp đô thị hóa bền vững Tam Kỳ cần được triển khai đồng bộ. Thứ nhất, cần thực hiện tốt tầm nhìn chiến lược phát triển gắn với quy hoạch đô thị Tam Kỳ theo hướng đồng bộ, hiện đại, văn minh, và thân thiện với môi trường [Luận văn, tr.vi, 90]. Quyết định 3550-QĐ/UBND năm 2014 của UBND tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt quy hoạch chung Tam Kỳ đến năm 2030, tầm nhìn 2050, định hướng phát triển thành "đô thị xanh" [2, tr.38].

Thứ hai, cần tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ và du lịch, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thứ ba, tăng cường quản lý đô thị Tam Kỳ, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường đô thị và sử dụng đất Tam Kỳ, để giải quyết các vấn đề ô nhiễm và tối ưu hóa tài nguyên. Thứ tư, cần tiếp tục đầu tư vào hạ tầng Tam Kỳ phát triển theo tiêu chuẩn đô thị loại I, nâng cao chất lượng các công trình phúc lợi xã hội. Các bài học lịch sử từ quá trình đô thị hóa cũng cần được vận dụng để "kết hợp hài hòa giữa xu thế phát triển đô thị hiện đại và gìn giữ những giá trị văn hóa cốt lõi" [Luận văn, tr.iii], giúp Tam Kỳ vươn lên thành đô thị loại I trước năm 2030, đóng góp vào tốc độ đô thị hóa Quảng Namđặc điểm đô thị hóa miền Trung theo hướng tích cực.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số vấn đề về đô thị hóa và tổng quan về thành phố Tam Kỳ trƣớc năm 1997 - Chương 2. Quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ (1997-2017). Đặc điểm, tác động và bài học lịch sử từ quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ (1997-2017).

8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ TAM KỲ TRƢỚC NĂM 1997 1. Một số vấn đề về đô thị hóa 1. Khái niệm và chức năng của đô thị 1. Khái niệm Đô thị là sản phẩm của lịch sử, ghi đậm dấu ấn của từng giai đoạn phát triển kinh tế-văn hóa của xã hội loài người, là kiệt tác hoàn chỉnh của nhân loại.

Đô thị là điểm mạnh trong không gian kinh tế, nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời đô thị cũng là không gian xã hội với những điều kiện thuận lợi và đa dạng của đời sống sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Trình độ văn minh đô thị, chất lượng đô thị cũng có sự khác nhau theo không gian và thời gian. Đô thị ngày nay có nhiều điểm khác biệt so với đô thị thời xưa, sự khác biệt này được thể hiện qua sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, quy mô dân số cũng như tỉ lệ dân cư đô thị [26, tr.14]…Từ lâu đô thị đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, với những mức độ và phương diện khác nhau.

Từ đó cũng dẫn đến sự ra đời nhiều định nghĩa khác nhau về đô thị: Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu phương Tây thì: đô thị (urban, city) là một giai đoạn phát triển của nhân loại, Bách Khoa toàn thư Hoa Kỳ cho rằng “Như cách sử dụng thông thường, đô thị chỉ một tập hợp dân cư có quy mô đáng kể, là nơi mà điều kiện sống có kiểu trái ngược với đời sống nông thôn và hoang dã.Với nghĩa này, đô thị là một hiện tượng chung của xã hội văn minh” [102, tr. Theo những nhà quy hoạch đô thị Mỹ “thì đô thị là nơi tập trung dân cư với quy mô lớn tại một khu vực địa dư cụ thể, trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên và sòng phẳng thông qua các họat động kinh tế của khu vực đó…và là nơi có cơ hội để có được môi trường sống đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau” [54, tr. Richtofen đã định nghĩa đô thị “là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không dựa vào nông nghiệp mà trước hết dựa vào công nghiệp” và ông cũng cho rằng, người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh Gordon Childe (1892-1957) [102, tr. Với các nhà sử học Mác-xít, quan điểm về đô thị cũng rất khác nhau.

Xauskin đô thị “là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp” [54, tr. Bách Khoa toàn thư Liên Xô định nghĩa đô thị “là khu dân cư rộng lớn, dân cư ở đây chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như các lĩnh vực phục vụ, quản lý khoa học và văn hóa” [54, tr. Như vậy, theo các định nghĩa trên thì đô thị là nơi tập trung đông dân cư, ở đó 9 sản xuất phi nông nghiệp là chủ yếu và đô thị là một giai đoạn tiếp sau “nông nghiệp” trong tiến trình phát triển của lịch sử. Ở Việt Nam, xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau về đô thị: Từ điển tiếng Việt, định nghĩa đô thị là: “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, được gọi là thành phố hoặc thị trấn” [84, tr.

Theo khái niệm này thì đô thị ra đời khi hình thức sản xuất phi nông nghiệp tách khỏi nông nghiệp, không còn nằm trong khung cảnh thôn quê nữa. Theo nhà nghiên cứu Cao Xuân Phổ “Trong tiếng Việt có nhiều từ để chỉ khái niệm đô thị: đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã…các từ đó đều có hai thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ. Thời trước, chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế; bộ phận đảm nhận cai quản đô thị là do nhà nước bổ nhiệm. Đô thị Việt Nam khác với đô thị ở phương Tây là ở chỗ đó.

Đô thị phương Tây ít có tính chính trị hơn và thiên về chức năng kinh tế” [84, tr. Tương đồng với quan điểm này, Trần Ngọc Thêm nêu lên ba đặc điểm dẫn đến sự khác biệt về diện mạo của đô thị Việt Nam so với phương Tây “phần lớn đô thị Việt Nam do nhà nước sản sinh ra; đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu; đô thị Việt Nam đều do nhà nước quản lý” [100, tr. Tuy nhiên, đây không phải là đặc điểm duy nhất của đô thị Việt Nam thời hiện đại, vì hiện nay, đô thị Việt Nam bên cạnh yếu tố “đô”, “thành” còn có những yếu tố khác đóng vai trò quan trọng như: giao thông, điện nước, giáo dục, văn hóa, y tế…Vì vậy, theo các tác giả của công trình “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị” do tác giả Nguyễn Thế Bá chủ biên cho rằng đô thị “là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện” [84, tr. Từ những định nghĩa trên, có thể khẳng định những nhận định chung về đô thị: Đô thị được hiểu chính là khu vực tập được trung dân cư sinh sống đông đúc, có mật độ cao và cư dân trong đô thị chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, khu vực hình thành đô thị có đóng vai trò trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, phường, thị trấn, thị tứ.

Chức năng của đô thị Tùy theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có chức năng khác nhau, tuy nhiên về cơ bản đô thị có 4 chức năng: - Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán. Chính yêu 10 cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá. Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là công nhân, viên chức, người buôn bán và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị.

- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại.là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế,. - Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao, do đó ở đô thị cần phải có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.

- Chức năng quản lý: Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân. Do đó chính quyền địa phương phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị. Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá của xã hội, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hoá. Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển và thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hóa.

Đô thị tối ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường sản xuất, kinh doanh mở rộng. Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn. Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước. Đô thị giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, lôi cuốn các cộng đồng cư dân nông thôn vào các hoạt động trao đổi kinh tế thị trường và phát triển văn hóa.

Khái niệm đô thị hóa Theo Từ điển tiếng Việt, đô thị hóa “là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” [84, tr. Tác giả Nguyễn Thế Bá đưa ra định nghĩa đô thị hóa “là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống…Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức, không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị” [84, tr. Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian.

Nếu tính theo cách thứ nhất thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ