Chương 1. Một số vấn đề về đô thị hóa và tổng quan về thành phố Tam Kỳ trƣớc năm 1997 - Chương 2. Quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ (1997-2017). Đặc điểm, tác động và bài học lịch sử từ quá trình đô thị hóa thành phố Tam Kỳ (1997-2017).
8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ TAM KỲ TRƢỚC NĂM 1997 1. Một số vấn đề về đô thị hóa 1. Khái niệm và chức năng của đô thị 1. Khái niệm Đô thị là sản phẩm của lịch sử, ghi đậm dấu ấn của từng giai đoạn phát triển kinh tế-văn hóa của xã hội loài người, là kiệt tác hoàn chỉnh của nhân loại.
Đô thị là điểm mạnh trong không gian kinh tế, nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời đô thị cũng là không gian xã hội với những điều kiện thuận lợi và đa dạng của đời sống sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Trình độ văn minh đô thị, chất lượng đô thị cũng có sự khác nhau theo không gian và thời gian. Đô thị ngày nay có nhiều điểm khác biệt so với đô thị thời xưa, sự khác biệt này được thể hiện qua sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, quy mô dân số cũng như tỉ lệ dân cư đô thị [26, tr.14]…Từ lâu đô thị đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, với những mức độ và phương diện khác nhau.
Từ đó cũng dẫn đến sự ra đời nhiều định nghĩa khác nhau về đô thị: Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu phương Tây thì: đô thị (urban, city) là một giai đoạn phát triển của nhân loại, Bách Khoa toàn thư Hoa Kỳ cho rằng “Như cách sử dụng thông thường, đô thị chỉ một tập hợp dân cư có quy mô đáng kể, là nơi mà điều kiện sống có kiểu trái ngược với đời sống nông thôn và hoang dã.Với nghĩa này, đô thị là một hiện tượng chung của xã hội văn minh” [102, tr. Theo những nhà quy hoạch đô thị Mỹ “thì đô thị là nơi tập trung dân cư với quy mô lớn tại một khu vực địa dư cụ thể, trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên và sòng phẳng thông qua các họat động kinh tế của khu vực đó…và là nơi có cơ hội để có được môi trường sống đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau” [54, tr. Richtofen đã định nghĩa đô thị “là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không dựa vào nông nghiệp mà trước hết dựa vào công nghiệp” và ông cũng cho rằng, người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh Gordon Childe (1892-1957) [102, tr. Với các nhà sử học Mác-xít, quan điểm về đô thị cũng rất khác nhau.
Xauskin đô thị “là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp” [54, tr. Bách Khoa toàn thư Liên Xô định nghĩa đô thị “là khu dân cư rộng lớn, dân cư ở đây chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như các lĩnh vực phục vụ, quản lý khoa học và văn hóa” [54, tr. Như vậy, theo các định nghĩa trên thì đô thị là nơi tập trung đông dân cư, ở đó 9 sản xuất phi nông nghiệp là chủ yếu và đô thị là một giai đoạn tiếp sau “nông nghiệp” trong tiến trình phát triển của lịch sử. Ở Việt Nam, xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau về đô thị: Từ điển tiếng Việt, định nghĩa đô thị là: “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, được gọi là thành phố hoặc thị trấn” [84, tr.
Theo khái niệm này thì đô thị ra đời khi hình thức sản xuất phi nông nghiệp tách khỏi nông nghiệp, không còn nằm trong khung cảnh thôn quê nữa. Theo nhà nghiên cứu Cao Xuân Phổ “Trong tiếng Việt có nhiều từ để chỉ khái niệm đô thị: đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã…các từ đó đều có hai thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ. Thời trước, chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế; bộ phận đảm nhận cai quản đô thị là do nhà nước bổ nhiệm. Đô thị Việt Nam khác với đô thị ở phương Tây là ở chỗ đó.
Đô thị phương Tây ít có tính chính trị hơn và thiên về chức năng kinh tế” [84, tr. Tương đồng với quan điểm này, Trần Ngọc Thêm nêu lên ba đặc điểm dẫn đến sự khác biệt về diện mạo của đô thị Việt Nam so với phương Tây “phần lớn đô thị Việt Nam do nhà nước sản sinh ra; đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu; đô thị Việt Nam đều do nhà nước quản lý” [100, tr. Tuy nhiên, đây không phải là đặc điểm duy nhất của đô thị Việt Nam thời hiện đại, vì hiện nay, đô thị Việt Nam bên cạnh yếu tố “đô”, “thành” còn có những yếu tố khác đóng vai trò quan trọng như: giao thông, điện nước, giáo dục, văn hóa, y tế…Vì vậy, theo các tác giả của công trình “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị” do tác giả Nguyễn Thế Bá chủ biên cho rằng đô thị “là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện” [84, tr. Từ những định nghĩa trên, có thể khẳng định những nhận định chung về đô thị: Đô thị được hiểu chính là khu vực tập được trung dân cư sinh sống đông đúc, có mật độ cao và cư dân trong đô thị chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, khu vực hình thành đô thị có đóng vai trò trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, phường, thị trấn, thị tứ.
Chức năng của đô thị Tùy theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có chức năng khác nhau, tuy nhiên về cơ bản đô thị có 4 chức năng: - Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán. Chính yêu 10 cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá. Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là công nhân, viên chức, người buôn bán và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị.
- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại.là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế,. - Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao, do đó ở đô thị cần phải có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.
- Chức năng quản lý: Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân. Do đó chính quyền địa phương phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị. Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá của xã hội, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hoá. Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển và thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hóa.
Đô thị tối ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường sản xuất, kinh doanh mở rộng. Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn. Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước. Đô thị giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, lôi cuốn các cộng đồng cư dân nông thôn vào các hoạt động trao đổi kinh tế thị trường và phát triển văn hóa.
Khái niệm đô thị hóa Theo Từ điển tiếng Việt, đô thị hóa “là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” [84, tr. Tác giả Nguyễn Thế Bá đưa ra định nghĩa đô thị hóa “là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống…Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức, không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị” [84, tr. Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian.
Nếu tính theo cách thứ nhất thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa.