CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIÊU ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 1. Khái niệm lợi nhuận Tùy theo quan điểm và góc độ xem xét đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về lợi nhuận Các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Mark cho rằng: “ Cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”. Theo Ađam Smith, lợi nhuận là “ khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động.
Còn theo David Ricardo “lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công”.Mark thì khẳng định: “ Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”[6, tr. Các nhà kinh tế học tư sản hiện đại như P.Nordhaus lại cho rằng: “ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu về trừ đi tổng số chi”. Hay nói cách khác: “ Lợi nhuận được định nghĩa là sự chênh lệch giữa tổng thu nhập của một doanh nghiệp và tổng chi phí” [8,tr. Như vậy, xét về mặt lượng các định nghĩa đều thống nhất rằng: Lợi nhuận là số thu dôi ra so với chi phí đã bỏ ra.
Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung[4], lợi nhuận kế toán là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Như vậy, đo lường lợi nhuận kế toán thực chất là đo lường doanh thu, Luan van 9 chi phí kế toán, ghi nhận và trình bày trong báo cáo kết quả kinh doanh”. Từ góc độ doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại.
Như vậy, lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính quan trọng, thể hiện kết quả, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cũng là chỉ tiêu tài chính quan trọng, là cơ sở để đánh giá, dự báo khả năng, tiềm năng sinh lời của doanh nghiệp. Mục tiêu đo lường lợi nhuận Đối với doanh nghiệp: Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp nên mục tiêu của mọi quá trình kinh doanh đều gắn liền với lợi nhuận và nhà quản lý đều mong muốn tối đa hoá lợi nhuận. Các doanh nghiệp sẽ không tồn tại nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh không mang lại lợi ích cho họ. Lợi nhuận được coi là một đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng cải tiến đổi mới hợp lý hoá dây truyền công nghệ sản xuất, sử dụng tốt các nguồn lực của mình để tăng lợi nhuận. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp nó có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Đối với nhà nước: Lợi nhuận là một nguồn thu ngân sách cho Nhà nước, nâng cao phúc lợi xã hội, từ đó Nhà nước có vốn để đầu tư phát triển xã hội, tạo sự phát triển cho nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước thực hiện công bằng xã hội. Đối với chủ nợ, nhà đầu tư: Lợi nhuận chính là chỉ tiêu, tham chiếu vào đó, chủ nợ, nhà đầu tư có những quyết định cho vay và đầu tư của mình. Luan van 10 Từ vai trò quan trọng của chỉ tiêu lợi nhuận, ta nhận thấy đo lường lợi nhuận trung thực, chính xác giúp cho nhà quản trị, nhà đầu tư… có cái nhìn chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nhưng trong thời điểm hiện nay các nhà quản trị luôn có nhu cầu quản trị lợi nhuận theo mục tiêu của mình thông qua các chính sách kế toán, công cụ tài chính. Do đó, đo lường lợi nhuận trung thực, chính xác với tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu, giúp giới hữu quan nhận biết được thông tin đúng đắn và ra những quyết định hợp lý, kịp thời. NGUYÊN TẮC ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN Lợi nhuận kế toán được đo lường dựa trên cơ sở đo lường doanh thu và chi phí. Do đó, muốn đo lường lợi nhuận kế toán cần tuân theo các nguyên tắc liên quan đến đo lường ghi nhận doanh thu và đo lường chi phí.
Cơ sở dồn tích Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tai, và tương lai. Kế toán theo nguyên tắc cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán.
Ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà dựa vào thời điểm giao dịch phát sinh, số liệu trên báo cáo tài chính thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà Luan van 11 kế toán. Chẳng hạn, việc phân bổ nhiều loại chi phí hay ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện trong hoạt động xây lắp mang tính chủ quan của nhà kế toán. Do báo cáo tài chính lập theo cở sở tiền mặt sẽ không phản ánh đúng thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới quy định các doanh nghiệp phải ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính theo cơ sở dồn tích.
Để xác định được thời điểm phát sinh doanh thu và chi phí dựa trên cơ sở kế toán dồn tích, chuẩn mực kế toán đưa ra nguyên tắc ghi nhận doanh thu và nguyên tắc phù hợp nhằm quy định thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí làm cơ sở cho việc xác định kết quả kinh doanh của kỳ kế toán một cách hợp lý. Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, báo cáo tài chính nói chung và báo cáo kết quả kinh doanh nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó cho phép phản ảnh tình trạng tái sản, nguồn vốn của một DN một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu Theo VAS14- Doanh thu và thu nhập khác [5], “doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy.
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên Luan van 12 quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó”. Kết quả của doanh thu bán hàng được xác định khi thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau: § Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. § Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. § Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn.
§ Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. § Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Trường hợp giao dịch về bán hàng thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành.
Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu. Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi”.
Nguyên tắc phù hợp Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung [4], “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó”.