Khóa luận tốt nghiệp ứng dụng phương pháp ipa đo lường chất lượng dịch vụ thông tin di động của trung tâm kinh doanh vnpt thừa thiên huế

Khóa luận phân tích chất lượng dịch vụ thông tin di động tại VNPT Thừa Thiên Huế bằng phương pháp IPA, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

140
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1.1. Mục tiêu chung
1.2.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

1.4.2. Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp

1.4.2.1. Phương pháp tính cỡ mẫu

2. PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG

2.1.1. Khái niệm dịch vụ

2.1.2. Khái niệm chất lượng dịch vụ

2.1.3. Dịch vụ thông tin di động và đặc điểm của dịch vụ thông tin di động

2.1.3.1. Khái niệm dịch vụ thông tin di động
2.1.3.2. Đặc điểm dịch vụ thông tin di động

2.1.4. Chất lượng dịch vụ thông tin di động và đặc điểm chất lượng dịch vụ thông tin di động

2.1.4.1. Quan niệm về chất lượng dịch vụ thông tin di động
2.1.4.2. Đặc điểm chất lượng dịch vụ thông tin di động

2.1.5. Mô hình nghiên cứu

2.1.5.1. Mô hình lý thuyết
2.1.5.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu
2.1.5.3. Mô hình nghiên cứu và thang đo đề xuất

2.2. CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP IPA ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT THỪA THIÊN HUẾ

2.2.1. Tổng quan về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và Trung tâm Kinh doanh VNPT Thừa Thiên Huế

2.2.1.1. Khái quát về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và Trung tâm Kinh doanh VNPT Thừa Thiên Huế
2.2.1.2. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
2.2.1.3. Giới thiệu trung tâm kinh doanh VNPT – Thừa Thiên Huế
2.2.1.4. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Kinh doanh VNPT Thừa Thiên Huế
2.2.1.5. Các nguồn lực của VNPT Thừa Thiên Huế
2.2.1.6. Tình hình lao động của Trung tâm Kinh doanh VNPT Thừa Thiên – Huế giai đoạn 2018– 2020
2.2.1.7. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

2.2.2. Thực trạng về chất lượng dịch vụ thông tin di động của VNPT Thừa Thiên Huế

2.2.2.1. Về chất lượng cuộc gọi
2.2.2.2. Về cấu trúc giá
2.2.2.3. Về dịch vụ gia tăng
2.2.2.4. Về sự thuận tiện
2.2.2.5. Về dịch vụ khách hàng

2.2.3. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

2.2.4. Kiểm định thang đo

2.2.4.1. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
2.2.4.2. Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA

2.2.5. Phân tích nhân tố các thành phần ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thông tin di động của VNPT Thừa Thiên Huế

2.2.6. Phân tích EFA cho thang đo mức độ hài lòng

2.2.7. Phân tích tương quan và hồi quy

2.2.7.1. Phân tích tương quan
2.2.7.2. Phân tích hồi quy

2.2.8. So sánh tầm quan trọng và mức độ thực hiện thành phần chất lượng dịch vụ thông tin di động VNPT Thừa Thiên Huế bằng phương pháp IPA

2.2.9. Kết quả thống kê đánh giá từng thành phần phản ánh chất lượng dịch vụ thông tin di động của VNPT Thừa Thiên Huế

2.2.10. Tổng hợp kết quả đánh giá các thành phần chất lượng dịch vụ thông tin di động của VNPT Thừa Thiên Huế lên mô hình IPA

2.3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT THỪA THIÊN HUẾ

2.3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp

2.3.2. Định hướng phát triển dịch vụ di động Vinaphone của Trung tâm Kinh doanh VNPT Thừa Thiên Huế giai đoạn 2021 – 2025

2.3.3. Mục tiêu phát triển dịch vụ thông tin di động Vinaphone của Trung tâm Kinh doanh VNPT Thừa Thiên Huế 2021 – 2025

2.3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin di động của VNPT Thừa Thiên Huế

2.3.4.1. Giải pháp đối với “Chất lượng cuộc gọi”
2.3.4.2. Giải pháp đối với “Cấu trúc giá”
2.3.4.3. Giải pháp đối với “Dịch vụ gia tăng”
2.3.4.4. Giải pháp đối với “Sự thuận tiện”
2.3.4.5. Giải pháp đối với “Dịch vụ khách hàng”
2.3.4.6. Một số giải pháp khác

3. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Kết quả đạt được

3.2. Đóng góp của nghiên cứu

3.2.1. Về mặt lý luận

3.2.2. Về mặt thực tiễn

3.3. Hạn chế của nghiên cứu

3.4. Đề xuất, kiến nghị

3.4.1. Đối với Bộ Thông tin truyền thông và các cơ quan chức năng tại Tỉnh Thừa Thiên Huế

3.4.2. Đối với Tập đoàn Bưu chính viễn thông VNPT

3.4.3. Đối với Trung tâm Kinh doanh VNPT Thừa Thiên Huế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đo Lường Chất Lượng Dịch Vụ Thông Tin Di Động

Chất lượng dịch vụ thông tin di động là một yếu tố quan trọng trong việc giữ chân khách hàng và phát triển thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà mạng tại Việt Nam, việc đo lường chất lượng dịch vụ trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Phương pháp IPA (Importance-Performance Analysis) đã được áp dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ của VNPT Thừa Thiên Huế, giúp xác định các yếu tố quan trọng mà khách hàng quan tâm.

1.1. Khái Niệm Chất Lượng Dịch Vụ Thông Tin Di Động

Chất lượng dịch vụ thông tin di động được định nghĩa là mức độ mà dịch vụ cung cấp đáp ứng hoặc vượt qua mong đợi của khách hàng. Các yếu tố như độ tin cậy, tốc độ kết nối và dịch vụ khách hàng đều ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dùng.

1.2. Vai Trò Của Phương Pháp IPA Trong Đánh Giá Chất Lượng

Phương pháp IPA giúp phân tích mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của các yếu tố chất lượng dịch vụ. Qua đó, các nhà quản lý có thể xác định được những điểm cần cải thiện để nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

II. Vấn Đề Chất Lượng Dịch Vụ Thông Tin Di Động Tại VNPT Thừa Thiên Huế

Mặc dù VNPT là một trong những nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động hàng đầu tại Việt Nam, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ. Các vấn đề như độ tin cậy của mạng, chất lượng cuộc gọi và dịch vụ khách hàng cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Thách Thức Trong Việc Đo Lường Chất Lượng Dịch Vụ

Việc đo lường chất lượng dịch vụ gặp khó khăn do sự đa dạng trong nhu cầu của khách hàng và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Điều này đòi hỏi VNPT phải liên tục cập nhật và cải tiến dịch vụ.

2.2. Tác Động Của Cạnh Tranh Đến Chất Lượng Dịch Vụ

Sự cạnh tranh giữa các nhà mạng như Viettel và Mobifone đã tạo áp lực lớn lên VNPT. Để giữ chân khách hàng, VNPT cần cải thiện chất lượng dịch vụ và cung cấp các gói cước hấp dẫn.

III. Phương Pháp IPA Đánh Giá Chất Lượng Dịch Vụ Tại VNPT

Phương pháp IPA được áp dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ thông tin di động của VNPT Thừa Thiên Huế. Qua đó, các yếu tố quan trọng được xác định và phân tích để đưa ra các giải pháp cải thiện.

3.1. Quy Trình Thực Hiện Phương Pháp IPA

Quy trình thực hiện phương pháp IPA bao gồm việc thu thập dữ liệu từ khách hàng, phân tích mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của các yếu tố chất lượng dịch vụ, từ đó đưa ra các khuyến nghị cải tiến.

3.2. Kết Quả Phân Tích IPA Tại VNPT Thừa Thiên Huế

Kết quả phân tích cho thấy một số yếu tố như chất lượng cuộc gọi và dịch vụ khách hàng được đánh giá cao về mức độ quan trọng nhưng lại có mức độ thực hiện chưa đạt yêu cầu, cần được cải thiện.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phương Pháp IPA Tại VNPT

Việc ứng dụng phương pháp IPA không chỉ giúp VNPT Thừa Thiên Huế đánh giá chất lượng dịch vụ mà còn giúp đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Các kết quả từ nghiên cứu sẽ được sử dụng để cải tiến dịch vụ trong tương lai.

4.1. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện Chất Lượng Dịch Vụ

Dựa trên kết quả phân tích, VNPT cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng cuộc gọi và dịch vụ khách hàng. Các giải pháp như đào tạo nhân viên và nâng cấp hạ tầng mạng sẽ được xem xét.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Và Ảnh Hưởng Đến Khách Hàng

Nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện chất lượng dịch vụ sẽ có tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng, từ đó giúp VNPT giữ vững thị phần và phát triển bền vững.

V. Kết Luận Về Chất Lượng Dịch Vụ Thông Tin Di Động Tại VNPT

Chất lượng dịch vụ thông tin di động tại VNPT Thừa Thiên Huế cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Phương pháp IPA đã chứng minh hiệu quả trong việc đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ.

5.1. Tương Lai Của Chất Lượng Dịch Vụ Tại VNPT

Trong tương lai, VNPT cần tiếp tục áp dụng các phương pháp hiện đại để đánh giá chất lượng dịch vụ, đồng thời không ngừng cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng theo các yếu tố khác nhau, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể hơn nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp ứng dụng phương pháp ipa đo lường chất lượng dịch vụ thông tin di động của trung tâm kinh doanh vnpt thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Khái niệm dịch vụ Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, dịch vụ và chất lượng dịch vụ không còn là một phạm trù mới lạ trong kinh tế. Vì vậy, có rất nhiều cách đưa ra khái niệm về dịch vụ. Trong từ điển Oxford, công nghệ dịch vụ được định nghĩa là “cung cấp dịch vụ, không phải hàng hóa” hay cung cấp thứ gì đó “vô hình dạng”.

Theo James Fitzsimmons, dịch vụ là một trải nghiệm vô hình, có tính mau hỏng theo thời gian được đem đến cho khách hàng (khách hàng đóng vai trò là người làm ra dịch vụ). Trong lý luận Marketing, dịch vụ được coi là một hoạt động của chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, chúng có tính vô hình và không làm thay đổi quyền sở hữu. Dịch vụ có thể được tiến hành nhưng không nhất thiết phải gắn liền với sản phẩm vật chất. Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Zeithaml & Britner, 2000).

Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng (Kotler & Armstrong, 2004). Gronroos (1990) định nghĩa “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng”. Kotler (2000) cho rằng “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền SVTH: Phan Đình Thắng 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.

Lê Thị Phương Thảo với một sản phẩm vật chất”. Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa đưa ra (ISO 9004- 1991E): “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”. Đây là một khái niệm được nhiều người sử dụng rộng rãi. Bản chất của dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu.

Như vậy, dịch vụ là kết quả của những hoạt động không thể hiện bằng sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế. Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất và tính không thể lưu trữ. Chính đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Tính vô hình (intangible): Tính vô hình, theo Miner (1998) không có sự vật việc đơn thuần là sản phẩm hay dich vụ và ông cho rằng có một sự diễn tiến liên tục giữa sản phẩm hữu hình và vô hình.

Parasuraman và cộng sự (1985) cũng bình luận rằng tính vô hình có nghĩa là “hầu hết các dịch vụ không thể đo, đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo chất lượng dịch vụ. Khác với sản phẩm vật chất, các dịch vụ không thể nhìn thấy, nếm, ngửi, cảm giác hay nghe thấy được trước khi mua. Dịch vụ là các hoạt động do các doanh nghiệp cung cấp, nó khác với các hàng hóa hữu hình, chúng ta không thể nhìn thấy được, nếm được, sờ mó được. trước khi chúng ta tiêu dùng dịch vụ đó.

Rất khó đánh giá được lợi ích của việc sử dụng dịch vụ trước lúc mua nên việc lựa chọn mua dịch vụ cũng do đó mà khó khăn hơn. Muốn tiêu thụ được các dịch vụ của mình, doanh nghiệp cần phải bằng mọi cách tác động đến người mua để họ nhanh chóng thấy được lợi ích của việc sử dụng dịch vụ, tiện nghi và chất lượng dịch vụ cũng như sự hợp lí của giá cả dịch vụ. Tính không đồng nhất (heterogeneous): Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người tạo ra chúng vì những người tạo ra sản SVTH: Phan Đình Thắng 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Phương Thảo phẩm dịch vụ có khả năng khác nhau và trong những điều kiện môi trường, hoàn cảnh, trạng thái tâm sinh lí khác nhau có thể dẫn đến chất lượng không giống nhau nhất là trong điều kiện không được tiêu chuẩn hóa (máy móc, tay nghề, công nghệ,…).

Do khách hàng rất muốn chăm sóc như là những con người riêng biệt nên dịch vụ thường bị cá nhân hóa và không đồng nhất. Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Bởi vậy, các doanh nghiệp rất khó để đưa ra các tiêu chuẩn dịch vụ nhằm làm thõa mãn tất cả các khách hàng trong mọi hoàn cảnh vì sự thõa mãn đó phụ thuộc vào sự cảm nhận và sự trông đợi của mỗi khách hàng.

Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana & Pitt,1997). Lý do là những gì công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu dùng nhận được. Tính dị biệt, dịch vụ được thực hiện sẽ khác nhau trong mỗi loại hình khác nhau, như dịch vụ cung cấp trong thông tin di động khác trong lĩnh vực ngân hàng, hay trong lĩnh vực du lịch.

Mặt khác, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng. Vì vậy, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn hơn so với tiêu thụ những sản phẩm vật chất khác. Tính không thể tách rời (inseparable): Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch rời là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Đây là một đặc điểm thể hiện sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa.

Đối với hàng hóa vật chất quá trình sản xuất và tiêu dùng tách rời nhau. Người ta có thể sản xuất hàng hóa ở một nơi khác và ở một thời gian khác với nơi bán và nơi tiêu dùng. Đối với dịch vụ, sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và sự tương tác giữa bên cung cấp và bên nhận dịch vụ có thể ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Hầu hết các dịch vụ khách sạn, nhà hàng, cả người cung cấp dịch vụ và khách hàng không thể tách rời.

Khách hàng tiếp xúc với nhân viên là một phần quan trọng của sản phẩm.Với đặc điểm này cho thấy sự tác động qua lại giữa người cung cấp và khách hàng tạo nên sự tiêu dùng dịch vụ sản xuất khi bán, sản SVTH: Phan Đình Thắng 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Phương Thảo xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung cầu dịch vụ không thể tách rời nhau, phải tiến hành cùng một lúc, không có thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng để kiểm tra sản phẩm hư hỏng. Do đó, nhận thức về chất lượng phụ thuộc vào chất lượng của các mối quan hệ giữa khách hàng và toàn bộ tổ chức cung ứng. Quản lý chất lượng càng khó khăn hơn vì có sự tham gia của khách hàng.

Tính không thể lưu trữ (unstored): Vì dịch vụ là sản phẩm vô hình, nó có tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng nên sản phẩm dịch vụ không thể cất giữ được hoặc không thể lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác được. Các nhà cung ứng dịch vụ không thể bán tất cả sản phẩm của mình sản xuất ở hiện tại thì không có cơ hội bán ở tương lai do nó không lưu kho được. Chẳng hạn như thời gian nhàn rỗi của nhân viên giao dịch vào lúc không có khách không thể để dành cho lúc cao điểm. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định.

Khi nhu cầu thay đổi các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong thông tin di động là hết sức quan trọng. Tất cả những đặc điểm trên đây đều được biểu hiện trên mỗi sản phẩm dịch vụ với những mức độ khác nhau và chi phối hoạt động kinh doanh ở tất cả các khâu từ việc lựa chọn loại hình dịch vụ để định giá, tổ chức tiêu thụ và các hoạt động marketing dịch vụ khác. Chất lượng dịch vụ chỉ có thể đánh giá đầy đủ sau khi tiêu dùng sản phẩm dịch vụ.

Việc mua sản phẩm dịch vụ lại diễn ra trước nên người tiêu dùng dịch vụ thường dựa vào các thông tin về sản phẩm dịch vụ của người cung ứng dịch vụ, vào danh tiếng của người cung ứng, những mặt hữu hình và kinh nghiệm của bản thân trong tiêu dùng sản phẩm dịch vụ để lựa chọn. Khái niệm chất lượng dịch vụ Hiện nay với sự cạnh tranh đang ngày càng trở nên gay gắt, để thu hút được khách hàng về với đơn vị mình thì một yếu tố quan trọng đó là chất lượng. Chất lượng là một khái niệm phức tạp, nó đặc trưng cho tính hiệu quả của tất cả mọi mặt hoạt động thiết lập chiến lược, tổ chức sản xuất, bán hàng, marketing,… Chất lượng sản phẩm là thành phần quan trọng nhất của toàn bộ hệ thống chất lượng. Khái niệm “chất lượng” xuất phát từ Nhật Bản và trở thành yếu tố quan tâm hàng đầu của những ngành sản xuất vật chất vừa hướng đến tính hữu dụng và tiện lợi SVTH: Phan Đình Thắng 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.

Lê Thị Phương Thảo của sản phẩm, vừa để giảm thiểu những lãng phí trong quy trình sản xuất. Khi ngành dịch vụ bắt đầu được chú trọng trong nền kinh tế do nguồn lợi nhuận mang đến, thì “chất lượng dịch vụ” đã được đầu tư nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ