CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đề tài nhóm Thời đại công nghệ thông tin 4.0 và tin học hóa hiện nay đang rất phát triển, nhu cầu gia tăng năng suất và hiệu quả công việc ngày càng được nâng cao. Công nghệ hiện nay được áp dụng cho rất nhiều lĩnh vực trong đời sống, kể cả việc chăn nuôi trang trại cũng nên cần áp dụng công nghệ để giúp cho việc quản lý trang trại được hiểu quả hơn. Chính vì vậy mà nhóm chúng em đã tìm hiểu và xây dựng “Phần mềm quản lý trang trại gia cầm” nhằm giúp gia tăng hiệu quả quản lý trang trại cho người dùng.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã mang lại bước đột phá mới cho việc quản lý trang trại trở nên dễ dàng hơn, giúp người quản lý có thể nắm bắt các thông tin về số vật nuôi, tình trạng từng vật nuôi, quá trình sinh sản, lượng thức ăn cần thiết, việc nhập xuất vật nuôi một cách chính xác và kịp thời. Qua đó người quản lý trang trại sẽ đưa ra các quyết định đúng đắn, giảm thiểu được dịch bệnh, tăng hiệu suất kinh tế. Tên nhóm: Nhóm 1 1. Các thành viên trong nhóm Bảng 1.
1 Các thành viên trong nhóm STT Họ Tên MSSV SĐT Ghi chú 1 Nguyễn Minh Chiến 1911061917 0358455164 NT 2 Vũ Thị Duyên 1911064749 0392783701 12 3 Lâm Thị Bảo Châu 1911061127 0367935563 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tìm hiểu về dự án (Project) 1.1 Khái niệm chung về dự án Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể người có chuyên môn, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến.2 Dự án công nghệ thông tin Dự án công nghệ thông tin là liên quan đến phần cứng, phần mềm và mạng. Bộ ba ràng buộc của dự án: - Phạm vi (Scope): mục tiêu của dự án là gì? Dự án đạt được cái gì? - Thời gian (Time):dự án mất trong bao lâu mới được hoàn tất? - Chi phí (Cost): dự án này tốn kém bao nhiêu? 2. Đặc trưng của một dự án 14 2.1 Mục tiêu của dự án Mọi dự án đều bắt đầu khi có một vấn đề được đặt ra trong thực tế.
Kèm theo đó phải là những yêu cầu cần được giải quyết. Mục tiêu của dự án là giải quyết được vấn đề này. Các mục tiêu của dự án nhất thiết phải được viết ra một cách rõ ràng ngay từ đầu, nếu không khó có thể hoàn thành được. Từ các mục tiêu chung của việc phát triển CNTT như đã nêu ở trên, mỗi dự án CNTT cần phải cụ thể hoá các mục tiêu của mình cả về mặt định tính và định lượng.
Trên thực tế hiện nay, điều này không đơn giản vì muốn có mục tiêu cụ thể, phải xác định được yêu cầu thật cụ thể. Trong khi đó, có lẽ vì ứng dụng CNTT là công việc tương đối mới mẻ ở nước ta, nên nhiều khi người dùng cũng khó nêu rõ yêu cầu của mình, và do đó các mục tiêu được nêu lên hết sức chung chung. Điều này sẽ ảnh hưởng không ít tới sự thành bại của dự án mà chúng ta sẽ phân tích kỹ về sau này.2 Thời gian dự án Đối với mỗi dự án phải xác định được một thời hạn tối đa phải hoàn thành, cụ thể hơn là phải có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Thời điểm bắt đầu là khi vấn đề giải quyết được đặt ra.
Thời điểm kết thúc là hạn cuối cùng mà dự án phải hoàn thành. Thời điểm này phải được xác định rõ ràng, nếu không dự án có thể sẽ không bao giờ kết thúc. Trong thực tế, dự án luôn gặp phải những yêu cầu thay đổi khi đã ở gần giai đoạn cuối cùng. Nếu các thay đổi đó được coi như là một phần của dự án, thì dự án khó mà hoàn thành đúng hạn được.
Vì vậy phải rất rõ ràng về thời điểm kết thúc, và hãy đưa những yêu cầu thay đổi này vào một dự án 15 mới. Các dự án CNTT nằm trong khuôn khổ tổng thể của việc phát triển CNTT thường là những dự án trung hạn, kéo dài một vài ba năm. Tuy nhiên, để thực hiện từng bước, ta có thể phân các dự án đó thành các dự án nhỏ và hoàn thành trong thời gian từ vài ba tháng đến một năm để đáp ứng từng mục tiêu cụ thể trong mục tiêu chung của một dự án lớn.3 Kinh phí của dự án Tương tự như trên, mọi dự án đều phải xác định một kinh phí tối đa, hay nói khác đi là một khoản tiền tối đa mà dự án có thể sử dụng. Mỗi dự án trong sự phát triển CNTT đều phải xác định tổng dự toán kinh phí cho toàn bộ quá trình thực hiện, phân bổ theo từng năm thực hiện.
Các dự án đều được xác định nguồn vốn khác nhau có thể huy động được để đảm bảo được kinh phí cần thiết thực hiện dự án.4 Nguồn nhân lực Là tất cả những người tham gia vào dự án. Mỗi dự án phải xác định danh sách những người tham gia, từ mức quản lý dự án đến những người thực hiện, triển khai. Nhân lực có thể huy động từ bên trong hoặc bên ngoài đơn vị, tuỳ theo nội dung từng công việc trong dự án. Các dự án ứng dụng CNTT thường luôn đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia nghiệp vụ và chuyên gia tin học.5 Kết quả chuyển giao của dự án 16 Là kết quả của dự án hay nói khác đi là sản phẩm cuối cùng của dự án.
Mục tiêu của dự án thông thường là giải quyết vấn đề bằng việc tạo ra các kết quả này. Các kết quả và các mục tiêu nhất thiết phải được viết ra rõ ràng, nếu không mục đích của dự án sẽ không đạt được; sẽ tạo ra những kết quả sai khác đi và sẽ không ai hài lòng cả. Tìm hiểu về quản lý dự án 2.1 Khái niệm quản lý dự án Quản lý dự án là ứng dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để đáp ứng các yêu cầu của dự án. Người quản lý dự án là người điều hành và chịu trách nhiệm chính cho toàn bộ các vấn đề của dự án.
Nội dung của việc quản lý dự án CNTT bao gồm: - Quản lý phạm vi dự án. - Quản lý thời gian dự án. - Quản lý chi phí dự án. - Quản lý chất lượng dự án.
- Quản lý nguồn nhân lực dự án. - Quản lý truyền thông dự án. - Quản lý rủi ro dự án. - Quản lý mua sắm thiết bị dự án.
- Quản lý tích hợp dự án. Lập kế hoạch: - Định ra mục tiêu của dự án: kết quả cuối cùng cần đạt được, thời gian phải hoàn thành, các tiêu chuẩn về kỹ thuật. 17 - Xác định các phương tiện cần huy động (nhân lực, thông tin, thiết bị,.) tất cả những gì cần được tính vào kinh phí của dự án. - Xác định cách thức tổ chức quản lý và thực hiện.
Quản lý các rủi ro: Rủi ro là những điều xảy ra và làm cho dự án phải kéo dài hơn hoặc phải chi phí nhiều hơn so với kế hoạch đã định. Vấn đề là nếu lường trước được các vấn đề có thể xảy ra để đề xuất các biện pháp theo dõi và hành động kịp thời thì tốt hơn nhiều so với việc chờ chịu một cách bị động. Quản lý nhân sự: Động viên những người tham gia, kết phối hoạt động của họ, tạo điều kiện khuyến khích họ làm việc tích cực hơn, hiệu quả hơn. Theo dõi dự án: Người quản lý dự án phải theo dõi để đảm bảo mọi việc xảy ra theo đúng kế hoạch.
Việc theo dõi có thể được xác định gồm 3 vấn đề chính: 1. Giám sát - có các hệ thống có thể cho bạn biết rõ dự án đang tiến triển thế nào so với kế hoạch. Hệ thống tốt nhất là hệ thống có thể báo động trước cho người quản lý dự án biết về các vấn đề nảy sinh, có thể dẫn đến sự thay đổi chương trình hay mục tiêu của dự án về thời hạn, kinh phí và kết quả. Biết được có vấn đề thực sự nảy sinh hay không.
Có thể, dự án không được thực hiện theo sát kế hoạch đề ra một cách chính sác, nhưng điều đó không có ý nghĩa là sẽ gây ra rắc rối. Ví dụ một công việc (không thuộc đường Gant) không được hoàn thành đúng thời hạn đã định, thì không thể coi là một vấn đề.Phản ứng đối với vấn đề: có thể là khắc phục các nguyên nhân gây ra vấn đề, hoặc là thay đổi kế hoạch. Nếu kế hoạch bị thay đổi bạn phải thông báo cho những người có liên quan tới sự thay đổi này. 18 Tóm lại, quản lý dự án không chỉ đơn thuần là thực hiện một khối công việc đã được vạch định sẵn, mà bao gồm cả chính việc hình thành nên khối công việc đó.
Hơn thế nữa, trong giai đoạn xác lập dự án, người quản lý phải tập trung nhiều công sức hơn so với giai đoạn thực hiện - khi đã có thể giao nhiệm vụ cụ thể cho các cán bộ kỹ thuật được rồi.2 Mục đích của quản lú dự án Mục đích cuối cùng của việc quản lý dự án là nhằm đảm bảo cho dự án được thực hiện thành công. Một dự án được đánh giá là thành công nếu như đáp ứng được 4 vấn đề cơ bản sau: - Sản phẩm cuối cùng của dự án thực sự đáp ứng các yêu cầu của người dùng, đảm bảo thời gian và kinh phí không vượt quá 10- 20% dự tính ban đầu. - Người dùng hài lòng với quá trình thực hiện dự án, thực sự tham dự và góp phần công sức của mình trong các hoạt động của dự án. Đặc biệt đối với các dự án ứng dụng CNTT, vai trò của những cán bộ nghiệp vụ trong việc xác định yêu cầu, phân tích quy trình, thông tin.
tại chính đơn vị của mình là rất quan trọng. - Các cấp quản lý phía trên của dự án được cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình thực hiện dự án. - Những người thực hiện dự án cũng phấn khởi, không bị quá gò bó, tích luỹ được kinh nghiệm, tăng thêm thu nhập.3 Yêu cầu của vị trí quản lý dự án Các yêu cầu của vị trí quản lý dự án: 19 - An tường các kiến thức về: Công nghệ thông tin; ngoại ngữ; lãnh vực liên quan đến dự án công nghệ thông tin.