CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về dược liệu Đinh lăng lá xẻ 1. Tên gọi – vị trí phân loại Đinh lăng lá xẻ còn có tên gọi khác là cây gỏi cá, cây nam dương lâm, thuộc chi Polyscias, một chi nằm trong họ Nhân sâm (Araliaceae), bộ Hoa tán (Apiales), trong phân lớp Cúc (Asteridae), thuộc lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) [6]. Tên khoa học đầy đủ: Polyscias fruticosa (L.
Tên đồng nghĩa: Panax fruticosum L. Đặc điểm thực vật và nguồn gốc phân bố Hình 1. Hình ảnh cây Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) Harms) [7], [8] -Đinh lăng lá xẻ là một loại cây nhỏ, xanh tốt quanh năm, có thể cao đến 2m. Thân nhẵn, không có gai, thường cao 0,8 – 1,5m, mang nhiều vết sẹo to, màu xám.
Lá to, mọc so le, kép lông chim 2 – 3 lần, dài 20 – 40 cm; lá chét có răng cưa nhọn, đôi khi chia thùy, màu xanh, bóng mặt dưới nhiều hơn; gốc lá và phiến lá thuôn nhọn; cuống gầy dài 3-10 mm, phát triển thành bẹ to ở phần cuối; gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ, 3- 4 cặp gân phụ; có mùi thơm khi vò nát. Cụm hoa hình chùy ngắn, gồm nhiều tán; lá bắc rộng, sớm rụng; hoa nhỏ màu lục nhạt hoặc trắng xám; đài 5 răng hàn liền, mép uốn lượn; tràng 5 cánh hình trái xoan; nhị 5, chỉ nhị ngắn, bầu hạ 2 ô có rìa trắng nhạt. Quả dẹt, hình trứng, màu trắng bạc [7], [9]. 2 - Phân bố: Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) Harms, Araliaceae) có nguồn gốc ở vùng đảo Polyneise (Thái Bình Dương).
Cây được trồng ở Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào. Đây là một cây phổ biến ở nước ta được trồng làm cảnh. Gần đây, do sự nghiên cứu tác dụng bổ dưỡng của rễ Đinh lăng, người ta trồng nhiều ở các bệnh viện, trạm xá, vườn thuốc để dùng làm thuốc [7]. Thành phần hóa học Đinh lăng lá xẻ có chứa saponin, polyacetylen, alkaloid, glycosid, polyphenol, các vitamin như B1, B2, B6, C.
Ngoài ra, trong Đinh lăng lá xẻ còn chứa 20 acid amin với các loại acid amin không thay thế được như lysin, methionin, tryptophan, cysterin [10], [11]. ❖ Saponin Năm 1995 và 1996, Chaboud và các cộng sự đã lần lượt phân lập được 2 saponin từ lá Đinh lăng lá xẻ [12]. Năm 1998, Võ Duy Huấn và cộng sự đã phân lập được 8 saponin mới từ lá và rễ Đinh lăng lá xẻ được đặt tên là polysciosid A-H và 3 saponin đã biết từ trước [13]. Năm 2016, Trần Thị Hồng Hạnh phân lập được polysciosid I [14].
Đến năm 2018, hai saponin mới được phát hiện là polysciosid J và K [15]. Tất cả các saponin triterpenoid phân lập được đều có phần genin là acid oleanolic. Saponin cũng phân bố không giống nhau trong các bộ phận của cây Đinh lăng lá xẻ và khác nhau với các phương pháp định lượng. Cụ thể, bằng phương pháp cân thì hàm lượng saponin toàn phần trong các bộ phận cây Đinh lăng lá xẻ như sau: rễ (0,49%); vỏ rễ (1,00%); lõi rễ (0,11%) và lá (0,38%) [16].
Bằng phương pháp Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), hàm lượng acid oleanolic ở rễ là 0,063%; ở thân và lá là 1,5% [17]. Cũng bằng phương pháp này, năm 2012, Chử Thị Thanh Huyền và các cộng sự đã xác định được hàm lượng acid oleanolic trong dược liệu Đinh lăng lá xẻ là 0,001% - 0,015% và trong cao khô Đinh lăng lá xẻ là 0,015% - 0,035% [18]. Công thức acid oleanolic 3 Hình 1. Công thức chung của saponin terpenoid của cây Đinh lăng ❖ Polyacetylen Bên cạnh saponin, polyacetylen cũng là một hợp chất trong cây Đinh lăng lá xẻ được các nhà khoa học rất quan tâm do các tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, chống virus và chống kết tập tiểu cầu.
Polyacetylen được tìm thấy ở các cây thuộc họ Nhân sâm và trước đây được phân lập chủ yếu từ Nhân sâm. Năm 1992, Lutomski và cộng sự đã phân lập từ rễ cây Đinh lăng lá xẻ 5 hợp chất thuộc loại hợp chất polyacetylen [19]: - (8E)-heptadeca- 1,8-dien-4,6-diyn-3,10-diol - (8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on - (8Z)- heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on - Falcarinol - Panaxydol Tuy nhiên hàm lượng polyacetylen trong rễ Đinh lăng lá xẻ rất ít, hàm lượng của (8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6- diyn-3,10-diol là 0,003% và của falcarindiol là 0. ❖ Polyphenol Một đặc điểm nổi bật của Đinh lăng lá xẻ là các hợp chất phenolic trong rễ và lá hiện diện với hàm lượng khá cao, tuy nhiên các hợp chất này vẫn ít được nghiên cứu kỹ. Nghiên cứu của Mai và cộng sự sử dụng phương pháp HPLC cho thấy lá Đinh lăng lá xẻ chứa hàm lượng cao quercetin - một flavonol thực vật thuộc nhóm flavonoid thuộc polyphenol [11].
Quercetin có giá trị y học nhờ hoạt tính chống oxy hóa, chống loét, chống viêm, kháng khuẩn và kháng virus, cùng với tiềm năng điều trị các rối loạn tim mạch và thoái hóa thần kinh [20]. Chỉ có một số ít nghiên cứu báo cáo về sự hiện diện của các hợp chất phenolic trong Đinh lăng. Năm 2012, Nguyễn Thị Luyến và cộng sự [21] đã phân lập được 3 hợp 4 chất flavonoid từ lá của Đinh lăng lá xẻ bao gồm quercitrin, afzelin và kaempferol-3-O- rutonosid. Năm 2020, Nguyen và cộng sự đã đo được hàm lượng flavonoid tổng (58,30 mgQE/g chất khô) và polyphenol tổng (96,09 mgGAE/g chất khô) trong rễ Đinh lăng lá xẻ[22].
Năm 2022, nghiên cứu của Ly và cộng sự cho thấy trong lá Đinh lăng, hàm lượng polyphenol tổng là 20,57 mgGAE/g và hàm lượng flavonoid tổng là 8,30 mgQE/g [5]. ❖ Nhóm chất khác Acid amin: 20 loại acid amin trong thành phần của rễ, thân và lá Đinh lăng lá xẻ như: arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, methionin. Tinh dầu: phân tích bằng phương pháp Sắc ký khi – quang phổ khối (GC-MS) thấy trong lá Đinh lăng lá xẻ có 15 hợp chất sesquiterpen là β-elemen, δ-elemen, E-γ- bisabolen, α- bergamoten, β-germacren-D, gecmacren-B [24]. Sterol: 22-dehydro-24-isopropylcholesterol được phân lập từ rễ Đinh lăng lá xẻ [25].
Tác dụng dược lý và độc tính Khoảng 50 năm trở lại đây, nhiều nhóm tác giả đã nghiên cứu khá sâu về tác dụng sinh học của Đinh lăng. Chủ yếu là các công trình nghiên cứu ở trong nước, còn tình hình nghiên cứu ngoài nước vẫn còn khiêm tốn. Tác dụng tăng cường thể lực: Những nghiên cứu khoa học trước đây về Đinh lăng lá xẻ tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM [4] cho thấy cao Đinh lăng lá xẻ ở khoảng liều nhỏ hơn 180 mg/kg có tác dụng làm gia tăng vận động tự nhiên và thể hiện tác dụng tăng lực – chống nhược sức trên hai thực nghiệm: chuột bơi kiệt sức của Brekhman và chuột leo dây của Cabureb. Do đó, Đinh lăng lá xẻ có tác dụng tăng lực, tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi như kiệt sức, mệt mỏi, nóng.
Hơn nữa, rễ Đinh lăng lá xẻ làm cho nhịp tim trở lại bình thường sau khi chạy dài sức. Người bị suy nhược uống Đinh lăng lá xẻ giúp chóng phục hồi cơ thể, ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân. Nước sắc Đinh lăng lá xẻ có tác dụng tăng sự dẻo dai của cơ thể trên thí nghiệm cấp tính tương tự Nhân sâm. Tác dụng kích thích thần kinh trung ương: Cũng theo nghiên cứu của Trung tâm Sâm và Dược liệu Thành phố Hồ Chí Minh, cao Đinh lăng lá xẻ có tác dụng rút ngắn thời gian ngủ của natri barbital ở khoảng liều từ 45-180 mg/kg, tăng vận động tự nhiên của chuột nhắt ở khoảng liều 45 – 90 mg/kg 5 thể trọng.
Khi ở liều cao hơn, cao Đinh lăng lá xẻ thể hiện tác dụng ức chế thần kinh trung ương, làm giảm vận động tự nhiên, kéo dài thời gian ngủ của natri barbital. Do đó, cao Đinh lăng lá xẻ có khả năng kích thích thần kinh trung ương ở khoảng liều dưới 180 mg/kg [4]. Tác dụng cải thiện trí nhớ: Cao ethanol rễ Đinh lăng lá xẻ được chứng minh có tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột ở mức liều 300 mg/kg thể trọng thông qua mô hình thắt tạm thời hai động mạch cảnh chung gây thiếu máu não cục bộ, đồng thời với đó nghiên cứu cũng chỉ ra cơ chế tác dụng của cao cồn Đinh lăng lá xẻ thông qua việc tăng cường biểu hiện gen ChAT và muscarinic M5 [26]. Ở thử nghiệm khác, cao ethanol phối hợp lá và rễ ở liều 100 mg/kg thể hiện tác dụng cải thiện trí nhớ trên thực nghiệm gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin trong thực nghiệm mê cung bơi [27].
Tác dụng chống trầm cảm: Cao ethanol phối hợp lá và rễ Đinh lăng lá xẻ ở những liều 45, 90 và 180 mg/kg thể hiện tác dụng hồi phục thời gian ngủ bị rút ngắn bởi stress và đưa trở về trạng thái bình thường trên thực nghiệm stress tâm lý (stress cô lập). Liều 180 mg/kg có tác dụng chống trầm cảm trong thực nghiệm bơi cưỡng bức của Porsolt. Liều 45 mg/kg không có tác dụng chống trầm cảm đạt ý nghĩa thống kê khi sử dụng 1 lần liều duy nhất nhưng khi cho uống trong thời gian 3-7 ngày thì thể hiện tác dụng chống trầm cảm [28]. Tác dụng chống oxy hóa: Cao ethanol phối hợp rễ và lá Đinh lăng lá xẻ ở nồng độ 25-50 µg/ml có tác dụng ức chế sự hình thành MDA trên in vitro.
Cao lá thể hiện hoạt tính chống oxy hóa cao hơn so với cao rễ và cao phối hợp rễ và lá [29]. Ở một nghiên cứu khác, cao ethanol rễ và lá Đinh lăng lá xẻ ở liều 100 mg/kg đã duy trì ở mức bình thường hàm lượng MDA trong não các chuột bị gây tổn thương gan cấp bằng CCl4. Hoạt tính chống oxy hóa ở mô não của: Cao lá 21%, cao phối hợp 20%, cao rễ 16% [30]. Cao ethanol rễ Đinh lăng lá xẻ trong nghiên cứu in vitro cho kết quả hoạt tính chống oxy hóa bằng phương pháp khử gốc tự do DPPH (1,1-Diphenyl-2-picrylhydrazyl) và ABTS (acid 2,2’-azinobis-3-ethylbenzothiazolin-6-sulfonic) với giá trị IC50 tương ứng là 96,14 µg/ml và 38,76 µg/ml [22].
Một số tác dụng khác: Một số nghiên cứu cho thấy Đinh lăng lá xẻ còn có các tác dụng dược lý như kháng khuẩn, kháng nấm, hạ đường huyết, lợi tiểu, tác dụng trên sinh sản, tác dụng bảo vệ gan [4], [30], [31]. 6 Độc tính: Theo các nghiên cứu, Đinh lăng lá xẻ có độc tính thấp, thậm chí thấp hơn cả nhân sâm. Tuy nhiên, ở liều cao có thể gây độc. Kết quả giải phẫu bệnh lý trên chuột thí nghiệm tử vong do dùng liều độc cho thấy tổn thương nghiêm trọng ở các cơ quan quan trọng như gan, thận, tim và não, dẫn đến tử vong.
Liều độc tiêm phúc mạc LD50 của Đinh lăng lá xẻ là 32,9 g/kg. Cho uống với liều 50 g/kg thể trọng, chuột vẫn sống bình thường. Độc tính trường diễn thấy xung huyết ở gan, tim, phổi, dạ dày, ruột, biến loạn dinh dưỡng tim, gan, thận.