Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chọn nghề là một trong những quyết định mang tính bước ngoặt đối với tương lai của mỗi cá nhân và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực xã hội. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc làm trái ngành nghề sau đào tạo vẫn diễn ra phổ biến. Theo số liệu thống kê của Phòng Giáo dục chuyên nghiệp cao đẳng và đại học thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh được tác giả trích dẫn, có tới 75% học sinh thiếu hiểu biết về quyết định chọn ngành nghề của mình, 20% hiểu biết ở mức độ tương đối và chỉ có 5% học sinh thực sự hiểu rõ về ngành nghề đã chọn. Nhiều học sinh lựa chọn nghề theo trào lưu, chạy theo "nghề sang", "nghề hot" hoặc quyết định theo cảm tính bồng bột mà không dựa trên năng lực thực tế, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu thị trường lao động.

Trường Trung học phổ thông (THPT) Đông Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) là đơn vị giáo dục có bề dày truyền thống, thường xuyên nằm trong nhóm 200 trường có tỷ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng cao trên phạm vi cả nước. Mặc dù công tác giáo dục hướng nghiệp đã được nhà trường, phụ huynh và các đoàn thể địa phương quan tâm triển khai, hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại đây vẫn gặp phải một số khó khăn, hạn chế nhất định. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Vũ Thị Hiền thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) – Thực trạng và giải pháp" dưới sự hướng dẫn của ThS. Chu Thị Diệp tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (năm 2019).

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh từ năm 2015 đến năm 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ vấn đề lý luận về định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT.
  2. Làm rõ thực trạng của việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).
  3. Đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là sự định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian trường THPT Đông Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) và các địa bàn cư trú liên quan của học sinh trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng bao gồm: "học sinh THPT" (nhóm thanh niên từ 15–18 tuổi thuộc giai đoạn đầu tuổi thanh niên), "nghề", "nghiệp", "chuyên môn" và "định hướng nghề nghiệp". Định hướng nghề nghiệp được xác định là một hệ thống giáo dục toàn diện và liên tục nhằm cung cấp thông tin, kinh nghiệm để chuẩn bị cho cá nhân sống và làm việc trong môi trường kinh tế – xã hội biến đổi. Cơ sở lý luận của khóa luận dựa trên mô hình "tam giác chọn nghề nghiệp" gồm ba yếu tố cốt lõi:

  • Đỉnh thứ nhất: Đam mê, sở thích cá nhân.
  • Đỉnh thứ hai: Năng lực, sở trường và thế mạnh của bản thân.
  • Đỉnh thứ ba: Cơ hội việc làm, nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Về văn bản pháp lý và chính sách, nghiên cứu căn cứ vào Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 – 2025".

Về lịch sử nghiên cứu, tác giả điểm luận các công trình tiêu biểu: nghiên cứu của Phạm Mạnh Hà (2003) tại Bát Xát (Lào Cai, mẫu n=120); Lương Thị Khánh Ly (2007) về đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT; Nguyễn Phương Toàn (2011) về các yếu tố tác động đến chọn trường của học sinh tại Tiền Giang; Đỗ Thị Ngọc Chi (2013) tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi (Hải Phòng); Trần Thị Dương Liễu (2014) về định hướng nghề nghiệp sinh viên tâm lý học tại TP.HCM; Trần Ngọc Trà Ninh (2013) về vai trò của cha mẹ công nhân tại Hà Nội; và bài thuyết trình hướng nghiệp theo sở thích của diễn giả Nguyễn Quốc Chiến.

Phương pháp luận của đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu lý luận và báo cáo giáo dục.
  • Phương pháp logic – lịch sử.
  • Phương pháp thống kê xã hội học thông qua khảo sát bằng bảng hỏi (phiếu điều tra) kết hợp phỏng vấn sâu đối với các nhóm khách thể: cán bộ quản lý, giáo viên, thành viên đoàn thể, phụ huynh học sinh và học sinh các khối 10, 11, 12 của trường THPT Đông Thụy Anh.

Nguồn dữ liệu thực chứng được thu thập trực tiếp tại trường qua các phiếu khảo sát:

  • 50 phiếu hỏi dành cho giáo viên.
  • 20 phiếu hỏi dành cho cán bộ tổ chức đoàn thể trong trường.
  • 70 phiếu hỏi dành cho phụ huynh học sinh.
  • Các mẫu khảo sát học sinh từ 50, 100, 115 đến 120 phiếu tùy theo từng nội dung đánh giá thực trạng (nhận thức, lựa chọn khối thi, dự định nghề nghiệp, yếu tố tác động).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Học sinh trường THPT và việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT

Chương 1 tập trung phân tích đặc điểm phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT (14/15 đến 17/18 tuổi) – giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ thiếu niên sang người trưởng thành. Các đặc điểm nổi bật bao gồm:

  • Sự phát triển thể chất: Đạt mức hoàn thiện tương đối về vóc dáng và chức năng sinh lý, hoạt động thần kinh phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên kinh nghiệm xã hội vẫn chưa tương xứng.
  • Sự phát triển trí tuệ: Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo; tư duy lý luận và tư duy trừu tượng phát triển mạnh, có khả năng phân tích, so sánh, khái quát hóa các quy luật.
  • Sự phát triển tự ý thức và thế giới quan: Xuất hiện nhu cầu tự đánh giá nhân cách, tìm kiếm vị trí xã hội tương lai, hình thành lý tưởng sống nhưng đôi khi còn phiến diện, thiếu ổn định.
  • Xu hướng nghề nghiệp: Nhu cầu định hình vị thế xã hội tương lai trở nên cấp thiết, đặc biệt ở giai đoạn cuối cấp.

Chương này cũng xác định rõ 4 chủ thể tham gia vào quá trình định hướng nghề nghiệp: Nhà trường, Gia đình, Các tổ chức xã hội và Bản thân học sinh. Mối quan hệ tương tác giữa 4 chủ thể này là điều kiện quyết định để học sinh đưa ra lựa chọn nghề nghiệp đáp ứng cả ba đỉnh của tam giác chọn nghề.

Chương 2: Thực trạng việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về công tác hướng nghiệp tại trường THPT Đông Thụy Anh từ năm 2015 đến năm 2019 qua các phương diện:

1. Khái quát về đơn vị nghiên cứu: Trường THPT Đông Thụy Anh chuyển về cơ sở mới tại xã Thụy Hà (huyện Thái Thụy) từ năm 2011. Đội ngũ gồm 81 giáo viên chia thành 8 tổ chuyên môn (100% đạt chuẩn đại học, 15% có trình độ thạc sĩ). Quy mô trường có hơn 2.000 học sinh phân bổ trong 39 lớp (13 lớp/khối, sĩ số 35–40 học sinh/lớp). Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT bình quân đạt từ 90% đến 95%. Từ năm 2018, thầy Trương Kim Hiển giữ chức vụ Hiệu trưởng (thay thầy Phạm Quốc Bình).

2. Hoạt động định hướng nghề nghiệp của nhà trường:

  • Nhận thức: 76% giáo viên (38/50 phiếu) và 75% cán bộ đoàn thể (15/20 phiếu) đánh giá công tác định hướng nghề nghiệp là "Rất quan trọng"; 20% giáo viên và 25% cán bộ đoàn thể đánh giá "Quan trọng".
  • Các hình thức triển khai: Nhà trường đã tổ chức tập huấn kỹ năng cho giáo viên, lồng ghép tư vấn vào tiết sinh hoạt lớp (do giáo viên chủ nhiệm đảm nhiệm, tiêu biểu như lớp 12A8 chuyên ban C của cô Tống Thị Thương), tổ chức ngoại khóa quy mô toàn trường (2 lần/năm dưới dạng sân khấu hóa, gameshow theo phản ánh của cô Phạm Thị Mai), mời các trường đại học/cao đẳng về tư vấn tuyển sinh (tiêu biểu là chương trình ngày 13/4/2015 phối hợp với Trung tâm dạy nghề Thanh niên khu vực Sông Hồng và Tỉnh đoàn Thái Bình tư vấn cho hơn 3.000 học sinh hai trường THPT Đông Thụy Anh và THPT Vũ Tiên).
  • Đánh giá hình thức: 60% giáo viên cho rằng hoạt động "Thu hút nhưng chưa đa dạng về hình thức"; 16% đánh giá "Đa dạng và thu hút"; 14% cho rằng "Đa dạng nhưng chưa thu hút"; 10% đánh giá "Chưa thu hút và chưa đa dạng".
  • Thái độ học sinh: 33/50 học sinh được đánh giá rất quan tâm, lắng nghe và đặt câu hỏi; 12/50 quan tâm, lắng nghe; 4/50 lắng nghe nhưng không chú tâm; 1/50 còn biểu hiện thờ ơ.

3. Hoạt động của chính quyền và đoàn thể địa phương trên địa bàn huyện Thái Thụy:

  • Tỷ lệ tham gia: 39,13% học sinh (45/115 phiếu) cho biết có tham gia hoạt động hướng nghiệp từ địa phương; 48,7% (56/115 phiếu) phản ánh địa phương chưa có hoạt động; 12,17% không quan tâm.
  • Hình thức thực hiện: Tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh xã/phường/thị trấn; phổ biến chính sách ưu đãi vốn vay khởi nghiệp; tổ chức tọa đàm, tập huấn tại nhà văn hóa thôn, tổ dân phố (như Đoàn Thanh niên xã Thụy Tân).

4. Sự định hướng của gia đình và sự tự định hướng của học sinh:

  • Thái độ gia đình: 61,5% phụ huynh (43/70 phiếu) rất quan tâm; 28,6% quan tâm; 7,14% bình thường và 2,85% không quan tâm.
  • Xu hướng tôn trọng nguyện vọng: 54,3% phụ huynh định hướng theo nguyện vọng con cái; 45,7% phụ huynh áp đặt, định hướng không theo nguyện vọng của học sinh.
  • Xu hướng hướng nghiệp của gia đình: 32,9% chọn cho con đi xuất khẩu lao động; 27,1% chọn học đại học/cao đẳng; 24,3% chọn học nghề; 15,7% chọn đi làm ngay sau tốt nghiệp THPT.
  • Dự định sau tốt nghiệp của học sinh (khảo sát 100 học sinh lớp 12): 50% chọn học tiếp đại học/cao đẳng/học nghề; 33% chọn đi du học hoặc xuất khẩu lao động; 9% nghỉ ngơi rồi xác định tiếp; 8% đi làm công nhân trực tiếp.
  • Khối thi được lựa chọn (khảo sát 50 học sinh có nguyện vọng thi tiếp): Khối D chiếm 34% (17 học sinh); Khối A chiếm 28% (14 học sinh); Khối B chiếm 16% (8 học sinh); Khối khác chiếm 14% (7 học sinh); Khối C chiếm 8% (4 học sinh).
  • Nhóm ngành dự định: Nhóm ngành kinh tế, thương mại, tài chính chiếm 24%; bộ đội, công an chiếm 16%; các ngành khác (khoa học tự nhiên, sư phạm, nghệ thuật) chiếm 12%; y tế chiếm 10%; khoa học xã hội chiếm 8%.
  • Yếu tố tác động đến tự định hướng (khảo sát 120 phiếu): Sự định hướng của gia đình (25%); Sự định hướng của nhà trường (21,67%); Sở thích, năng lực bản thân (20,83%); Cơ hội việc làm/đầu ra sẵn có (17,5%); Điều kiện kinh tế khó khăn nên đi làm (10,83%); Các nguyên nhân khác (4,16%). Vẫn còn khoảng 30% học sinh chuẩn bị tốt nghiệp nhưng chưa định hướng rõ ràng nghề nghiệp tương lai.

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh

Chương 3 đề xuất định hướng phát triển và hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng hướng nghiệp:

1. Phương hướng định hướng nghề nghiệp: Xác lập nguyên tắc và định hướng hành động cho 4 chủ thể:

  • Đối với Nhà trường: Nâng cao nhận thức cán bộ quản lý, giáo viên; chuẩn hóa đội ngũ làm công tác hướng nghiệp; tích hợp hướng nghiệp vào chương trình chính khóa và ngoại khóa; bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí; tăng cường liên kết với các trường đại học, cao đẳng và doanh nghiệp.
  • Đối với Chính quyền đoàn thể địa phương: Tuyên truyền chủ trương, chính sách việc làm; xây dựng kế hoạch hướng nghiệp cho thanh niên; phát động phong trào học nghề truyền thống; hỗ trợ vốn khởi nghiệp và liên kết với trường THPT trên địa bàn.
  • Đối với Gia đình: Xây dựng môi trường gia đình thuận lợi, lắng nghe và tôn trọng nguyện vọng chính đáng của con cái; chủ động cập nhật thị trường lao động; phối hợp chặt chẽ với nhà trường.
  • Đối với Bản thân học sinh: Nâng cao tự nhận thức về sở trường và năng lực; chủ động tìm hiểu thị trường lao động qua các nguồn tin chính thống; lập kế hoạch học tập gắn liền với mục tiêu nghề nghiệp, tránh thái độ thụ động, ỷ lại hoặc thờ ơ.

2. Giải pháp trọng tâm:

  • Tăng cường công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động định hướng nghề nghiệp thông qua việc thực hiện đầy đủ 4 chức năng quản lý: Xây dựng kế hoạch (ngay từ đầu năm học, sát với thực tiễn), Tổ chức thực hiện, Chỉ đạo và Kiểm tra, đánh giá.
  • Đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường.
  • Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành giữa Nhà trường, Gia đình và Đoàn thể địa phương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính từ khảo sát thực tế

Dưới đây là các bảng tổng hợp số liệu thực chứng do tác giả thu thập tại trường THPT Đông Thụy Anh:

Bảng 1: Đánh giá của giáo viên và đoàn thể về mức độ hiệu quả của các phương pháp định hướng

Phương pháp định hướng Giáo viên (n=50) Tỷ lệ (%) Cán bộ đoàn thể (n=20) Tỷ lệ (%)
Mời các trường đại học về tư vấn tuyển sinh 27 54,0% 12 60,0%
Đưa nội dung hướng nghiệp vào tiết sinh hoạt lớp 8 16,0% 2 10,0%
Tổ chức các buổi ngoại khóa về nghề nghiệp 6 12,0% 3 15,0%
Nhà trường trực tiếp giải đáp thắc mắc 6 12,0% 3 15,0%
Cung cấp tài liệu tham khảo cho học sinh 3 6,0% 0 0,0%

Bảng 2: Sự phân bổ định hướng của gia đình và dự định của học sinh

Chỉ tiêu khảo sát Phân loại lựa chọn Số lượng Tỷ lệ (%)
Định hướng của gia đình
(Khảo sát 70 phụ huynh)
Đi xuất khẩu lao động 23 32,9%
Học tiếp đại học, cao đẳng 19 27,1%
Học nghề 17 24,3%
Đi làm ngay sau tốt nghiệp THPT 11 15,7%
Dự định của học sinh lớp 12
(Khảo sát 100 học sinh)
Học tiếp đại học, cao đẳng, học nghề 50 50,0%
Đi du học hoặc xuất khẩu lao động 33 33,0%
Nghỉ ngơi rồi mới xác định mục tiêu 9 9,0%
Đi làm công nhân trực tiếp 8 8,0%

Bảng 3: Các yếu tố tác động đến quyết định chọn nghề của học sinh (n=120)

Yếu tố tác động Số lượng phiếu Tỷ lệ (%)
Sự định hướng từ gia đình 30 25,00%
Sự định hướng từ nhà trường 26 21,67%
Sở thích và năng lực của bản thân 25 20,83%
Ngành nghề có sẵn đầu ra việc làm 21 17,50%
Hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên đi làm 13 10,83%
Tổng hợp các nguyên nhân khác 5 4,16%

Hệ thống giải pháp đề xuất

  • Đề xuất quy trình quản lý hoạt động hướng nghiệp của Hiệu trưởng theo 4 khâu khép kín: Lập kế hoạch – Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra.
  • Đề xuất tăng thời lượng và tính chuyên đề cho hoạt động hướng nghiệp trong giờ sinh hoạt lớp định kỳ hàng tháng.
  • Kiến nghị cơ chế phân bổ ngân sách nhà trường và huy động nguồn lực xã hội hóa (hội phụ huynh, doanh nghiệp tài trợ) phục vụ công tác hướng nghiệp.
  • Thiết lập kênh thông tin hướng nghiệp chính thống qua cổng thông tin điện tử của nhà trường và hệ thống truyền thanh cơ sở tại huyện Thái Thụy.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học và Giáo dục chính trị. Về mặt thực tiễn, công trình cung cấp bộ số liệu khảo sát toàn diện, phản ánh đa chiều từ 4 chủ thể (nhà trường, gia đình, đoàn thể địa phương, học sinh) tại trường THPT Đông Thụy Anh giai đoạn 2015–2019, chỉ ra tỷ lệ áp đặt nghề nghiệp từ phía phụ huynh (45,7%) và tỷ lệ học sinh chưa có định hướng rõ ràng (30%).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong điều kiện tác giả còn hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học. Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn tại một trường THPT thuộc huyện ven biển (Thái Thụy, Thái Bình) trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, chưa mở rộng so sánh đối chứng với các trường THPT thuộc khu vực đô thị hoặc các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng quy mô khảo sát liên trường trên toàn tỉnh Thái Bình, nghiên cứu sâu hơn về tác động dài hạn của các chính sách phân luồng theo Quyết định 522/QĐ-TTg, cũng như đánh giá mức độ tương thích nghề nghiệp của học sinh sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng hoặc tham gia thị trường lao động.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp cho:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường THPT trong việc thiết kế kế hoạch, quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại nhà trường phổ thông.
  • Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân trong việc xây dựng giáo án tích hợp hướng nghiệp vào giờ sinh hoạt lớp và hoạt động ngoại khóa.
  • Sinh viên, học viên các chuyên ngành Giáo dục chính trị, Sư phạm, Xã hội học, Quản lý giáo dục thực hiện các đề tài nghiên cứu về tâm lý lứa tuổi, phân luồng học sinh sau THPT và định hướng nghề nghiệp.
  • Các tổ chức Đoàn Thanh niên cấp cơ sở tham khảo các mô hình liên kết tư vấn nghề và hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Yếu tố nào có tác động lớn nhất đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trường THPT Đông Thụy Anh? Theo kết quả khảo sát 120 học sinh, sự định hướng của gia đình là yếu tố có tác động lớn nhất, chiếm 25,00% (30 phiếu), tiếp theo là sự định hướng của nhà trường chiếm 21,67% (26 phiếu) và sở thích, năng lực bản thân chiếm 20,83% (25 phiếu).

2. Mức độ can thiệp và áp đặt của gia đình trong việc chọn nghề của con cái tại trường THPT Đông Thụy Anh như thế nào? Kết quả khảo sát 70 phụ huynh cho thấy có 54,3% phụ huynh định hướng theo nguyện vọng của con, trong khi vẫn còn tới 45,7% phụ huynh định hướng theo ý muốn chủ quan, mang tính áp đặt mà không dựa trên nguyện vọng và sở trường của học sinh.

3. Hình thức định hướng nghề nghiệp nào được nhà trường thực hiện và đánh giá là mang lại hiệu quả cao nhất? Hình thức mời các trường đại học, cao đẳng về tư vấn tuyển sinh trực tiếp được đánh giá là hiệu quả nhất (54% giáo viên và 60% cán bộ đoàn thể lựa chọn), tiếp đến là đưa nội dung hướng nghiệp vào tiết sinh hoạt lớp do giáo viên chủ nhiệm phụ trách (16% giáo viên lựa chọn).

4. Xu hướng chọn khối thi và nhóm ngành của học sinh trường THPT Đông Thụy Anh thể hiện điều gì? Khối D là khối thi được học sinh lựa chọn nhiều nhất với 34% (17/50 học sinh), tiếp theo là Khối A với 28%, Khối B với 16%, Khối khác 14% và Khối C với 8%. Về nhóm ngành, ngành kinh tế – thương mại – tài chính dẫn đầu với 24%, tiếp theo là ngành bộ đội – công an với 16%.

5. Công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động hướng nghiệp được tác giả đề xuất gồm những chức năng nào? Tác giả đề xuất Hiệu trưởng cần thực hiện đầy đủ 4 chức năng quản lý cốt lõi: Xây dựng kế hoạch hoạt động ngay từ đầu năm học, Tổ chức thực hiện theo phân công cụ thể, Chỉ đạo điều hành các lực lượng và Kiểm tra, đánh giá kết quả triển khai định kỳ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Hiền đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Đông Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) giai đoạn 2015–2019. Bằng phương pháp điều tra xã hội học với hệ thống số liệu cụ thể, tác giả đã làm rõ vai trò, thành tựu cũng như những hạn chế còn tồn tại từ phía nhà trường, gia đình, chính quyền địa phương và bản thân học sinh. Hệ thống giải pháp được đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện công tác quản lý của Hiệu trưởng, đổi mới hình thức hướng nghiệp và tăng cường sự phối hợp liên ngành, mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT hiện nay.