Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình chuẩn bị tốt nghiệp và bước vào giai đoạn chuyển tiếp nghề nghiệp, học sinh trung học phổ thông (THPT) phải đối mặt với thị trường ngành nghề đa dạng và nhiều biến động. Phần lớn học sinh hiện nay có xu hướng lựa chọn nghề nghiệp dựa trên cảm tính, thị hiếu đám đông, sự áp đặt từ gia đình hoặc sự rủ rê của bạn bè mà chưa căn cứ xác đáng vào năng lực, sở trường của bản thân cũng như nhu cầu nhân lực thực tế của xã hội.

Tại các trường THPT, công tác giáo dục hướng nghiệp (GDHN) vẫn còn mang tính sơ sài, thời lượng giảng dạy chính khóa chưa được phân bổ tương xứng mà chủ yếu lồng ghép qua các tiết sinh hoạt lớp, hoạt động ngoại khóa hoặc buổi chào cờ đầu tuần. Do chưa có sự định hướng rõ ràng và thông tin nghề nghiệp còn hạn chế, nhiều học sinh khi nộp hồ sơ xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng chưa đánh giá đúng mức độ phù hợp của bản thân đối với ngành học. Hệ quả thực tiễn là tình trạng sinh viên chán học, bỏ học giữa chừng khi bước vào giảng đường chuyên nghiệp để chuyển hướng ngành nghề khác, dẫn đến sự lãng phí lớn về thời gian, tài chính và công sức của bản thân, gia đình và toàn xã hội.

Nhằm làm rõ thực trạng và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tư vấn, định hướng nghề nghiệp, đề tài "Định hướng nghề nghiệp cho học sinh khối THPT tại trường THPT Xuân Mai, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội" đã được thực hiện với các mục tiêu và phạm vi cụ thể:

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu thực trạng định hướng nghề nghiệp cho học sinh khối THPT tại trường THPT Xuân Mai, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại trường.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về định hướng nghề nghiệp cho học sinh khối THPT.
    2. Tìm hiểu và phân tích thực trạng định hướng nghề nghiệp cho học sinh khối THPT tại trường THPT Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội.
    3. Đề xuất một số giải pháp mang tính thực tiễn nhằm thực hiện hiệu quả công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh khối THPT tại địa bàn nghiên cứu.
  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng định hướng nghề nghiệp cho học sinh khối THPT tại trường THPT Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Trường THPT Xuân Mai, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội.
    • Thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2017 – 2020. Dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra, khảo sát thực địa từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận vấn đề định hướng nghề nghiệp dưới góc độ khoa học công tác xã hội và xã hội học, kết hợp khung lý thuyết liên ngành về giáo dục học và tâm lý học lứa tuổi.

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Các khái niệm cơ bản:
    • Hướng nghiệp: Hệ thống các biện pháp giúp con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp phù hợp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường cá nhân với nhu cầu của xã hội. Khái niệm này được tác giả xem xét ở hai bình diện: bình diện xã hội (hệ thống tác động liên ngành nhằm điều tiết nguồn nhân lực) và bình diện trường phổ thông (hoạt động dạy - học tương tác giữa giáo viên và học sinh nhằm giúp học sinh tự quyết định nghề nghiệp).
    • Nghề nghiệp: Hoạt động lao động phục vụ cho cơ sở tồn tại, hướng vào việc kiếm sống lâu dài, đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn.
    • Giáo dục hướng nghiệp (GDHN): Bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể tại trường phổ thông, thực hiện 2 chức năng chính (chuẩn bị năng lực lao động - kỹ thuật và chuẩn bị tâm lý - đạo đức nghề nghiệp) cùng 4 nhiệm vụ trọng tâm: (1) Giúp học sinh làm quen với các nghề cơ bản trong xã hội; (2) Hướng dẫn phát triển hứng thú nghề nghiệp; (3) Giúp học sinh hình thành năng lực nghề nghiệp tương ứng; (4) Giáo dục thái độ, ý thức tôn trọng người lao động và bảo vệ tài sản công.
  • Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT: Nghiên cứu phân tích các khía cạnh về sự phát triển thể chất cân đối, động cơ và hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp (đặc biệt ở lớp 12), sự phát triển tư duy logic trừu tượng, quá trình định hình thế giới quan và đời sống tình cảm phong phú của tuổi thanh niên.
  • Các lý thuyết xã hội học ứng dụng:
    • Thuyết cơ cấu chức năng của Talcott Parsons: Xem xét hành vi lựa chọn nghề của học sinh khối 12 như một tiểu hệ thống hành vi chịu sự tác động chặt chẽ từ các yếu tố gia đình, nhà trường, bạn bè và giới tính trong tổng thể cấu trúc xã hội.
    • Lý thuyết tương tác biểu trưng (G. H. Mead): Xem hành vi lựa chọn nghề nghiệp là một hành động xã hội có ý thức, được định hình qua quá trình tương tác xã hội và tiếp nhận biểu trưng về nghề nghiệp.
    • Thuyết lựa chọn duy lý (George Homans, Peter Blau, James Coleman): Phân tích quá trình học sinh tính toán, cân nhắc nguồn lực sẵn có (học lực, tài chính gia đình, sức khỏe) nhằm tối ưu hóa quyết định chọn nghề với chi phí thấp nhất và xác suất thành công cao nhất.
    • Lý thuyết hành động xã hội (Max Weber, Talcott Parsons): Phân tích động cơ, ý nghĩa chủ quan và điều kiện hoàn cảnh cụ thể chi phối cách thức học sinh tiếp cận thông tin và tìm kiếm hỗ trợ việc làm.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu định lượng và định tính:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê từ các cơ quan quản lý giáo dục huyện Chương Mỹ, các báo cáo tổng kết năm học của trường THPT Xuân Mai (giai đoạn 2017 – 2020) và các công trình khoa học đã công bố liên quan đến chủ đề hướng nghiệp.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với tổng dung lượng mẫu khảo sát $N = 140$ người, phân bổ đều theo giới tính.
STT Đối tượng khảo sát Nam (người) Nữ (người) Tổng số (người)
1 Học sinh 50 50 100
2 Cán bộ, giáo viên 10 10 20
3 Phụ huynh học sinh 10 10 20
Tổng cộng 70 70 140
  • Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng phương pháp thống kê kinh tế (thống kê mô tả, thống kê so sánh, phân tích tỷ trọng, số tuyệt đối, số tương đối) và phân tích kinh tế nhằm lượng hóa thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực diện dựa trên khung hướng dẫn câu hỏi định sẵn, sử dụng máy ghi âm và kỹ thuật ghi chép nhanh để thu thập thông tin định tính bổ trợ từ các nhóm khách thể.
  • Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát trực tiếp các hoạt động học tập, sinh hoạt ngoại khóa và các buổi tư vấn hướng nghiệp tại trường nhằm ghi nhận thái độ và mức độ tham gia thực tế của học sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận về định hướng nghề nghiệp cho học sinh khối THPT

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các luận điểm khoa học về công tác định hướng nghề nghiệp trong trường phổ thông:

  • Lý luận về nhu cầu, hứng thú và năng lực nghề nghiệp: Làm rõ mối liên hệ giữa nhu cầu tinh thần (tự khẳng định bản thân) với việc hình thành hứng thú học tập các bộ môn cụ thể (Toán, Lý, Hóa gắn với khối kỹ thuật - kinh tế; Văn, Sử, Địa gắn với khối sư phạm - xã hội). Năng lực nghề nghiệp được khẳng định không phải là phẩm chất bẩm sinh cố định mà được tôi luyện thông qua quá trình học tập kết hợp lao động sản xuất.
  • Tổng quan nghiên cứu quốc tế: Trích dẫn các công trình lịch sử từ tài liệu hướng nghiệp đầu tiên tại Pháp; nghiên cứu của Bromley H. Kniveton (khảo sát 384 thanh thiếu niên từ 14 đến 18 tuổi về vai trò của gia đình và nhà trường); công trình của Michael Borchert (khảo sát 325 học sinh trường Germantown, Wisconsin khẳng định yếu tố đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng chi phối nhất); các mô hình chọn trường đại học của D. Chapman, Burns, Washburn, Hossler và Gallagher.
  • Tổng quan nghiên cứu trong nước: Điểm lại chủ trương phân luồng và hướng nghiệp trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX; các đóng góp nền tảng của GS. Phạm Tất Dong (các công trình năm 1974, 1982, 1987 nhấn mạnh hướng nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế); GS. Nguyễn Văn Hộ (2006) về hệ thống GDHN và giảng dạy kỹ thuật; cùng các bài báo khoa học của Trần Quốc Thành (2017), Phạm Thị Đức (2018), Nguyễn Văn Lê và Hà Thế Truyền (2019).

Chương 2. Thực trạng và giải pháp góp phần thực hiện định hướng nghề nghiệp của học sinh khối THPT tại trường THPT Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội

Chương 2 trình bày chi tiết về địa bàn nghiên cứu, phân tích kết quả khảo sát định lượng và định tính về thực trạng GDHN, các khó khăn và yếu tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp.

1. Khái quát về trường THPT Xuân Mai

  • Lịch sử phát triển: Tiền thân là trường Thanh niên lao động XHCN thành lập năm 1972 tại tỉnh Hà Tây (cũ), thực hiện mô hình vừa học văn hóa vừa lao động sản xuất. Năm 1979 đổi tên thành trường Cấp III Xuân Mai, nay là trường THPT Xuân Mai. Năm 2008, trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia.
  • Cơ sở vật chất: Năm 2019, trường có 45 phòng học, 01 phòng học đa năng, 02 phòng máy vi tính phục vụ môn Tin học, cùng các phòng bộ môn, phòng y tế, thư viện, khu hiệu bộ.
  • Đội ngũ nhân sự và học sinh: Năm học 2019 – 2020, trường có 111 cán bộ, giáo viên, nhân viên (CBGV-NV). Trong đó có 109 người trình độ đại học trở lên (chiếm 98,2%, bao gồm 22 thạc sĩ), 02 lao động phổ thông (1,8%). Về cơ cấu giới tính, có 38 nam (35%) và 73 nữ (65%). Độ tuổi từ 30–40 tuổi có 31 người (27%), trên 40 tuổi có 80 người (73%). Quy mô học sinh toàn trường là 1.947 em thuộc 45 lớp (Khối 10: 643 em; Khối 11: 559 em; Khối 12: 745 em; tỷ lệ giới tính gồm 785 nam và 1.162 nữ). Tỷ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng hằng năm đạt khoảng 40%.

2. Thực trạng triển khai các hình thức hướng nghiệp (2017 – 2019)

Số liệu thống kê về tần suất triển khai 5 hình thức định hướng nghề nghiệp tại trường THPT Xuân Mai qua các năm:

TT Hình thức định hướng nghề nghiệp Năm 2017 (lượt) Năm 2018 (lượt) Năm 2019 (lượt)
1 Qua tiết học, qua các buổi sinh hoạt dưới cờ 30 30 35
2 Tổ chức các hoạt động ngoại khoá về nghề nghiệp 15 15 15
3 Tổ chức tham quan các cơ sở sản xuất 10 10 10
4 Mời các chuyên gia về tư vấn hướng nghiệp cho học sinh 5 5 5
5 Tổ chức sinh hoạt theo các câu lạc bộ tìm hiểu nghề 10 10 10

3. Khó khăn trong công tác định hướng nghề nghiệp

Kết quả khảo sát đối với 3 nhóm khách thể về những trở ngại chính trong việc chọn nghề:

  • Đánh giá từ phía học sinh ($n = 100$):
    • Không biết mình phù hợp ngành nghề nào: 25% (25 em) – khó khăn chiếm tỷ lệ cao nhất.
    • Gia đình phản đối: 19% (19 em) – phụ huynh áp đặt định kiến hoặc không cho chọn nghề xa/khó xin việc tại đô thị.
    • Tác động từ xã hội: 17% (17 em) – áp lực từ sự thay đổi công nghệ và tiêu chuẩn thị trường.
    • Thiếu điều kiện tài chính để theo học nghề: 14% (14 em).
    • Ý kiến khác: 11% (11 em).
    • Thiếu thông tin về nghề: 8% (8 em).
    • Không gặp khó khăn: 6% (6 em).
  • Đánh giá từ phía cán bộ, giáo viên ($n = 20$):
    • Do bản thân các em chưa xác định được mục tiêu: 25% (5 người).
    • Gia đình phản đối/áp đặt: 25% (5 người).
    • Tác động từ yêu cầu kỹ năng của xã hội: 20% (4 người).
    • Tác động theo bạn bè, người thân (chọn nghề theo phong trào): 15% (3 người).
    • Học sinh thiếu điều kiện tài chính: 15% (3 người).
  • Đánh giá từ phía phụ huynh ($n = 20$):
    • Khó khăn khi con muốn có định hướng riêng (xung đột quan điểm): 35% (7 người).
    • Không biết con phù hợp với ngành nghề nào: 25% (5 người).
    • Tác động từ biến động xã hội và văn hóa: 20% (4 người).
    • Gia đình không có điều kiện tài chính: 20% (4 người).

4. Các yếu tố ảnh hưởng tới định hướng nghề nghiệp

Số liệu so sánh mức độ tác động của các yếu tố chi phối quyết định chọn nghề giữa các nhóm khảo sát:

STT Nhóm yếu tố ảnh hưởng Đánh giá của HS ($n=100$) Đánh giá của CBGV ($n=20$) Đánh giá của Phụ huynh ($n=20$)
1 Do bản thân học sinh (năng lực, sở thích, ngoại hình) 24% (27 người) 25% (5 người) 25% (5 người)
2 Tác động từ gia đình (định hướng, áp đặt truyền thống) 22% (24 người) 25% (5 người) —
3 Tác động từ bạn bè, anh chị em (tâm lý a dua, số đông) 16% (19 người) 20% (4 người) 30% (6 người)
4 Điều kiện kinh tế, tài chính gia đình 15% (15 người) 15% (3 người) 20% (4 người)
5 Tình trạng sức khỏe bản thân 15% (15 người) — —
6 Tác động từ thị trường, xã hội — 15% (3 người) 25% (5 người)

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Về hình thức tổ chức: Nhà trường đã duy trì 5 kênh hoạt động hướng nghiệp chính. Trong đó, kênh tuyên truyền qua tiết học và sinh hoạt chào cờ chiếm tỷ trọng cao nhất và có sự gia tăng (đạt 35 lượt trong năm 2019). Tuy nhiên, các hoạt động có tính trải nghiệm chuyên sâu như mời chuyên gia tư vấn chỉ dừng lại ở mức 5 lượt/năm.
  2. Về khó khăn nhận thức: Tồn tại sự bất tương xứng giữa mong muốn của học sinh và định hướng của gia đình. Có tới 25% học sinh hoàn toàn lúng túng không nhận diện được năng lực bản thân, trong khi 35% phụ huynh thừa nhận gặp trở ngại lớn nhất khi con cái muốn tự lựa chọn hướng đi riêng trái với định hướng truyền thống của gia đình.
  3. Về thực trạng quản lý: Thực tế triển khai theo Công văn 7475 của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại trường còn nhiều bất cập; thời lượng GDHN chỉ được bố trí 1 tiết/tháng/lớp và phân công cho Ban giám hiệu (Hiệu trưởng, Hiệu phó), Bí thư Đoàn trường và giáo viên môn Giáo dục công dân giảng dạy kiêm nhiệm, dẫn đến tình trạng thiếu số tiết chuẩn quy định và thiếu tính chuyên trách.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

  • Cơ sở vật chất: Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị chuyên dụng phục vụ các chuyên đề hướng nghiệp và ứng dụng công nghệ thông tin trong tra cứu nghề.
  • Nâng cao nhận thức: Tuyên truyền sâu rộng làm thay đổi nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh về tầm quan trọng của GDHN, xóa bỏ tư tưởng coi đây là hoạt động phụ.
  • Đổi mới nội dung GDHN: Xây dựng chương trình cung cấp đa dạng thông tin về thị trường lao động, xu hướng kinh tế - xã hội địa phương; đảm bảo tính liên thông kiến thức từ mô tả nghề, nguyên tắc chọn nghề đến kỹ năng tư vấn chuyên sâu.
  • Đổi mới phương pháp và hình thức: Chuyển đổi phương pháp lấy học sinh làm chủ thể; tăng cường các hình thức thảo luận nhóm, câu lạc bộ hướng nghiệp, điều tra thực tế tại các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn.
  • Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên: Thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn, đào tạo lại kỹ năng tư vấn, nắm bắt tâm lý học sinh cho đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm làm công tác hướng nghiệp.
  • Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục: Tăng cường cơ chế phối hợp ba môi trường "Gia đình – Nhà trường – Xã hội", huy động các nguồn lực doanh nghiệp và cựu học sinh tham gia chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp.
  • Đổi mới kiểm tra, đánh giá: Xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả GDHN không dựa trên điểm số thuần túy mà đo lường mức độ chuyển biến trong nhận thức, thái độ và khả năng tự ra quyết định nghề nghiệp của học sinh qua 4 con đường tích hợp (môn văn hóa, môn kỹ thuật - lao động sản xuất, hoạt động ngoại khóa và tiết sinh hoạt hướng nghiệp).

Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về GDHN gắn với các lý thuyết xã hội học hiện đại (thuyết lựa chọn duy lý, thuyết hành động xã hội, thuyết cấu trúc chức năng).
  • Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng phản ánh đồng thời góc nhìn của cả 3 chủ thể (học sinh, giáo viên, phụ huynh) tại một trường THPT thuộc khu vực bán đô thị (thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Quá trình khảo sát thực địa bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 kéo dài trong nửa đầu năm 2020, làm gián đoạn tiến độ thu thập dữ liệu trực tiếp.
    • Quy mô mẫu khảo sát định lượng còn ở mức khiêm tốn ($N = 140$), chỉ giới hạn tại một trường THPT duy nhất (THPT Xuân Mai), do đó tính đại diện để khái quát hóa cho toàn bộ khu vực ngoại thành Hà Nội còn hạn chế.
    • Kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng xử lý thống kê của người thực hiện đề tài ở bậc đại học còn những giới hạn nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh liên trường giữa các trường THPT khu vực nông thôn, bán đô thị và nội thành Hà Nội.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình can thiệp của Công tác xã hội học đường trong việc hỗ trợ tâm lý và tham vấn nghề nghiệp cá nhân cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn hoặc chịu áp lực lớn từ gia đình.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Quản lý giáo dục và Tâm lý học sư phạm đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về phân luồng học sinh, công tác xã hội trường học và tâm lý chọn nghề của lứa tuổi thanh thiếu niên.
  • Ban giám hiệu và cán bộ quản lý giáo dục THPT: Tham khảo quy trình xây dựng nội dung hướng nghiệp tích hợp, cách thức phân tích các yếu tố cản trở và kinh nghiệm tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ tìm hiểu nghề tại đơn vị.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Khung phân tích lý thuyết xã hội học ứng dụng trong Chương 1 và bộ số liệu khảo sát 3 chiều đối chiếu quan điểm giữa học sinh, giáo viên và phụ huynh trong Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các lý thuyết xã hội học nào để giải thích hành vi chọn nghề của học sinh?
Tác giả đã vận dụng 4 khung lý thuyết xã hội học nền tảng, bao gồm: Thuyết cơ cấu chức năng của Talcott Parsons, Lý thuyết tương tác biểu trưng của G. H. Mead, Thuyết lựa chọn duy lý (George Homans, Peter Blau, James Coleman) và Lý thuyết hành động xã hội (Max Weber, Talcott Parsons).

2. Khó khăn lớn nhất mà học sinh trường THPT Xuân Mai gặp phải trong việc định hướng nghề nghiệp là gì?
Theo kết quả khảo sát 100 học sinh, khó khăn lớn nhất là "Không biết mình phù hợp ngành nghề nào", chiếm tỷ lệ cao nhất với 25% (25 học sinh). Tiếp theo là khó khăn do "Bị gia đình phản đối" chiếm 19% (19 học sinh).

3. Đánh giá của phụ huynh về khó khăn khi định hướng nghề nghiệp cho con có điểm gì nổi bật?
Trong 20 phụ huynh được khảo sát, có tới 35% (7 phụ huynh) cho biết khó khăn lớn nhất xuất hiện "Khi con muốn có định hướng riêng cho bản thân", phản ánh sự bất đồng quan điểm giữa mong muốn tự chủ của học sinh và sự định hướng/áp đặt truyền thống từ cha mẹ.

4. Đội ngũ giáo viên và quy mô học sinh của trường THPT Xuân Mai tại thời điểm khảo sát (2019 - 2020) như thế nào?
Trường có 111 CBGV-NV, trong đó 109 người có trình độ đại học trở lên (gồm 22 thạc sĩ, tỷ lệ 98,2%); có 38 nam và 73 nữ. Quy mô học sinh toàn trường gồm 45 lớp với 1.947 học sinh (785 nam và 1.162 nữ), phân bổ ở Khối 10 (643 em), Khối 11 (559 em) và Khối 12 (745 em).

5. Điểm hạn chế chính trong việc tổ chức các tiết giáo dục hướng nghiệp tại trường theo ghi nhận của tác giả là gì?
Do GDHN không phải môn học chính khóa độc lập, việc thực hiện theo Công văn 7475 của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ bố trí thời lượng 1 tiết/tháng/lớp và phân công cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Hiệu phó), Bí thư Đoàn và giáo viên Giáo dục công dân kiêm nhiệm giảng dạy, dẫn đến tình trạng thiếu tiết chuẩn chuyên môn và thời lượng tương tác sâu với học sinh bị hạn chế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Linh đã phản ánh bức tranh thực tế về công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại trường THPT Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giai đoạn 2017 – 2020. Nghiên cứu đã làm rõ những rào cản nhận thức của học sinh, sự bất đồng quan điểm từ phía gia đình cũng như những khó khăn về cơ chế tổ chức tiết học hướng nghiệp kiêm nhiệm trong nhà trường. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ đổi mới nội dung, phương pháp, bồi dưỡng nhân lực đến đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị cho việc nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp tại các trường phổ thông hiện nay.