CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU TRÊN THẾ GIỚI 1.1 THƯƠNG HIỆU 1.1 Lịch sử phát triển thương hiệu Từ thương hiệu có nguồn gốc từ chữ Brand, theo tiếng Ailen cổ có nghĩa là “đóng dấu”. Từ thời xa xưa, khi những người chủ trang trại chăn nuôi muốn phân biệt đàn cừu của mình với những đàn cừu khác, học đã dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ nóng lên lưng từng con một; sau đó áp dụng với các sản phẩm thủ công và một số hàng hóa khác, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hoá và quyền sở hữu của mình. Đến đầu thế kỷ XIX, theo tự điển Oxford, từ “Brand” đã mang nghĩa là dấu hiệu của nhãn hiệu thương mại. Vào giữa thế kỷ XX, từ “brand” phát triển rộng ra để bao gồm cả hình ảnh về một sản phẩm được ghi lại trong tâm trí người tiêu dùng tiềm năng hoặc cụ thể hơn là quan niệm về một người hay một vật nào đó.
Ngày nay, “brand” được hiểu là tổng hòa tất cả các thông tin về một sản phẩm, dịch vụ hay một công ty được truyền đạt tới đối tượng mục tiêu bằng tên gọi hay các dấu hiệu nhận biết khác, như logo hoặc hình tượng. Nhãn hiệu không phải là cái tên: một tên Công ty nào đó mà không truyền đạt tới đối tượng mục tiêu thông điệp hay thuộc tính gì thì không thể gọi là một nhãn hiệu. Các thuộc tính trong nhãn hiệu tồn tại trong mắt người sở hữu và phản ánh sự tích lũy các thông điệp truyền thống mà đối tượng mục tiêu đã nhận được liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hay công ty và những kinh nghiệm mà người tiêu dùng đó đã trải qua với sản phẩm, dịch vụ hay công ty đó. Như vậy, thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản xuất.2 Khái niệm thương hiệu (brand) Nhìn chung, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của người sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm.
Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được ủy quyền cho người đại diện thương mại chính thức. Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Thương hiệu là dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một tổ chức hay một doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ, một thương hiệu là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng hay một kiểu dáng hay là sự kết hợp các yếu tố trên nhằm xác định sản phẩm hay dịch vụ của một hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với các đối thủ cạnh tranh. 1 Một thương hiệu có thể dùng để thị trường hay khách hàng nhận biết một mặt hàng, một nhóm mặt hàng hoặc tất cả các mặt hàng của một người bán và phân biệt được so với những hàng hóa tương tự của các đối thủ cạnh tranh.
Như vậy, thương hiệu không chỉ dùng cho một sản phẩm mà có thể gắn cho cả dòng sản phẩm, có thể là thương hiệu của cả tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn hay cả quốc gia, khu vực. Một thương hiệu có hai bộ phận cơ bản là tên và biểu tượng. Tên thương hiệu bao gồm chữ cái, con số và từ; đây là dấu hiệu phân biệt sản phẩm của một người bán với sản phẩm của những người bán khác. Một bộ phận khác của thương hiệu là biểu tượng hay thiết kế là mác thương hiệu – đây là dấu hiệu để thị trường nhận ra sản phẩm của mỗi nhà sản xuất.
Theo Philip Kotler - một chuyên gia marketing nổi tiếng thế giới đã định nghĩa: “Thương hiệu có thể hiểu như tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng để xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ”. 2 Theo Jonathan Gray 3 và Kirby Hayes 4 , thương hiệu là một sự tập hợp của việc nhận thức trong tư tưởng người tiêu dùng hay nói một cách đơn giản, thương hiệu chính là cái mác để treo nhãn hiệu của công ty trên chiếc thang tâm trí khách hàng trong một xã hội đầy rẫy thông tin. Tóm lại: Thương hiệu là hình tượng về một hàng hóa, dịch vụ hay doanh nghiệp; đó là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hoá của doanh nghiệp khác trên thị trường. Dấu hiệu có thể là chữ viết, hình vẽ, màu sắc, âm thanh hay là sự khác biệt trong việc đóng gói hay bao bì.3 Khái niệm nhãn hiệu (trademark) Theo điều 4, Luật Sở Hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức cá nhân khác nhau.
1 A brand is a name, term, sign, symbol, or design, or a combination of them, identify the goods or services of one seller or group sellers and to differentiate thêm from those of competitors. 2 Philip Kotler, 1995, Marketing 3 Jonathan Gray: Ph. Candidate and ITF Student Association President, Food Science Dept., Whistles Center for Carbohydrate Research, Purdue University. 4 Kirby Hayes: Ph.
Candidate, Food Science Dept. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nhãn hiệu có thể là những từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc.4 Chức năng của thương hiệu 1.1Đối với khách hàng Thương hiệu giúp cho khách hàng lựa chọn dễ dàng và đỡ mất thời gian. Vì vậy, thương hiệu mang chức năng của một thông điệp được trình bày với người tiêu dùng nhằm giúp họ cảm nhận nó như một giải pháp thiết yếu để giải quyết vấn đề mà họ đang gặp trong một tình huống nhất định. Một quảng cáo cho nhãn hàng “Sunsilk phục hồi” của Unilever Việt Nam: “Không còn sợ tóc hư tổn, bạn cứ vô tư làm đẹp đủ kiểu” – đây là giải pháp chuyên trị vấn đề hư tổn của tóc khi làm đẹp, và bản thân người sử dụng sản phẩm không còn phải lo đến vấn đề hư tổn của tóc mà sẽ có một mái tóc khoẻ đẹp đầy sức sống “cho mắt ai mãi tìm” hay là trung tâm của sự chú ý.
Thương hiệu có chức năng khẳng định niềm tin của khách hàng vào chính thương hiệu đó. Khi đưa một thông điệp đến với khách hàng, thương hiệu phải thực hiện đầy đủ những gì chuyển tải trong thông điệp của mình, tức là phải làm cho khách hàng luôn luôn tin tưởng vào những gì “thương hiệu nói”. Như vậy, khách hàng mới có thể đặt trọn niềm tin vào thương hiệu. Thương hiệu có chức năng khẳng định cái tôi của khách hàng.
Tức là thông qua thương hiệu, khách hàng thể hiện được cá tính của mình và có một hình tượng để thể hiện cái tôi của mình. Với chức năng này, nhiều thương hiệu đã tung ra slogans cho sản phẩm của mình đề cao nhân cách, cá tính của người tiêu dùng bằng cách tôn vinh “cái tôi” của khách hàng. Với thời trang Calvin Klein: “Dù tốt, dù xấu, hãy vẫn là chính bạn” 5. Với điện thoại di động O2: “Bạn là trung tâm thế giới” 6.
Với hãng xe General Motor: “Tôi cần cả địa cầu và địa cầu cần tôi” 7. Chức năng khẳng định vị thế của khách hàng. Với những thương hiệu lớn, bên cạnh việc khắng định cái tôi, khách hàng cũng hướng tới việc thể hiện vị trí của mình trong xã hội. Những thương hiệu này chỉ tung ra những sản phẩm riêng biệt nhằm phục vụ cho một loại khách hàng riêng biệt: “cao cấp”, “kỹ tính”, “sang trọng” … 5 “Be good, be bad, be yourself” 6 “A world that Revolves Around You” 7 “I need the Earth and the Earth needs Me” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Rolex là một thương hiệu thực hiện tốt chức năng trên.
Trong nhiều năm qua, Rolex đã cắt giảm các cửa hàng bán lẻ đồng hồ mang nhãn hiệu này trên thế giới. Đến nay, không một cửa hàng bán lẻ nào bán đồng hồ Rolex và nhu cầu mua tăng vọt. Do vậy, địa vị xã hội mang biểu trưng của Rolex được củng cố. Khách hàng không còn chọn Rolex vì tính chính xác mà để khẳng định mình là ai, ở vị trí nào, và … “giàu” cỡ nào.
Chức năng hòa nhập vào cộng đồng: Việc lựa chọn sử dụng thương hiệu là một phương thức để khách hàng khẳng định sự mong muốn hoà nhập vào một công đồng nào đó mà khách hàng chọn làm chuẩn. Hãng Pepsi đã chọn cho mình slogans “Sự lựa chọn của thế hệ mới", cộng đồng mà Pepsi hướng tới đó là thế giới trẻ trung, năng động. Hay hãng Shell xây dựng slogans “Sự phát triển đồng hành với công cuộc bảo vệ môi trường” hướng tới cộng đồng luôn thân thiện và bảo vệ môi trường. Thương hiệu chỉ có thể phát huy được hiệu quả đầy đủ nhất đối với khách hàng khi nó thực hiện hài hoà năm chức năng trên.
Các chức năng trên hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tạo thành một thương hiệu mạnh trong lòng người tiêu dùng.2Đối với công ty Chức năng tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng. Thông qua định vị thương hiệu, khách hàng dần dần được hình thành theo nhóm, giá trị cá nhân ngày càng được khẳng định. Thương hiệu được hình thành trong tiềm thức khách hàng thông qua tên gọi, logo, khẩu hiệu (slogan), trên hết là chất lượng và giá trị gia tăng có từ sản phẩm hay dịch vụ giành cho khách hàng mà thương hiệu đại diện. Các giá trị truyền thống được xây dựng, lưu giữ, bảo tồn chính là hình ảnh của thương hiệu.
Giá trị truyền thống của doanh nghiệp, hồi ức về hàng hóa và sự khác biệt rõ nét của thương hiệu là động lực đưa người tiêu dùng đến nhà sản xuất và hàng hóa của họ. Hình ảnh về doanh nghiệp và sản phẩm có một dấu ấn đối với người tiêu dùng. Khi nhắc đến Sony, người ta thường liên tưởng đến tivi, National thường được lựa chọn khi có nhu cầu mua nồi cơm điện. Có một thời, khi lựa chọn mua xe gắn máy, người tiêu dùng không chần chừ chọn ngay sản phẩm của Honda.
Các thương hiệu này đã tạo dựng một hình ảnh tốt về chất lượng, mẫu mã và giá trị gia tăng do sản phẩm đem lại cho người tiêu dùng. Thương hiệu có chức năng như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng.