Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÌNH CÔNG 1.1- QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ TRANH CHAP LAO ĐỘNG: 1.1- Quan hệ lao động, cơ sở phát sinh tranh chấp lao động: Vào khoảng từ giữa những năm 80 trở về trước, Nhà nước điều hành nền kinh tế bằng cơ chế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và hợp tác xã. Đặc điểm của cơ chế này trong sản xuất kinh doanh là chế độ cấp phát theo kế hoạch. Các doanh nghiệp quốc doanh chỉ được xem như là những đơn vị kinh tế phụ thuộc, không thực sự đi vào hạch toán kinh tế, tự chịu lỗ lãi. Về mặt lao động, Nhà nước như một người sử dụng lao động lớn nhất, trực tiếp đưa ra hệ thống phân phối điều hành đến từng cá nhân người lao động.
Với mục đích khuyến khích, động viên người lao động thực hiện bằng được các chỉ tiêu theo kế hoạch Nhà nước giao. Quan hệ lao động trong thời kỳ này chủ yếu được hình thành theo các thủ tục hành chính "Tuyển dụng vào biên chế Nhà nước" theo Nghị định 24/CP ngày 13/3/1963 của Chính Phủ, do lợi ích chung của toàn xã hội chi phối, đó là phục vụ cho mục tiêu "Độc lập dân tộc thống nhất đất nước”. Mục tiêu này vào thời kỳ đó được người lao động thừa nhận một cách tự nguyện. Với quan hệ lao động như vậy, tranh chấp lao động hiểu theo đúng nghĩa của từ này chưa được thừa nhận.
Mọi bất đồng phát sinh trong quan hệ lao động chỉ được giải quyết theo thủ tục hành chính, chưa có một hệ thống quản lý quan hệ lao động và giải quyết riêng về tranh chấp lao động. Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu đã bộc lộ những nhược điểm lớn, do vậy từ giữa những năm 80, Nhà nước đã từng bước đổi mới cơ chế quan lý kinh tế. Đặc biệt với các Nghị quyết Đại hội VI, VII của Dang và Hiến pháp 1992 đã khẳng định:"Phát triển nên kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (Điều 15). Phù hợp với cơ chế mới, thị trường lao động đã hình thành và phát triển khi có môi trường pháp lý thuận lợi.
Nhìn chung thị trường lao động được hình thành với các yếu tố cơ bản sau: - Giới thợ được hình thành do có nhu cầu bán sức lao động. - Người sử dụng lao động cả trong và ngoài quốc doanh tăng nhanh và có nhu cầu thuê mướn lao động. - Môi trường pháp lý, hệ thống pháp luật bảo đảm các quyển, lợi ích và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động từng bước được thiết lập và hoàn thiện. Trong cơ chế thị trường, lợi ích là yếu tố hạt nhân chi phối nội dung và tính chất các mối quan hệ lao động.
Quan hệ lao động giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động (hình thành chủ yếu thông qua hợp đồng lao động) và quan hệ giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động (chủ yếu hình thành thông qua thoả ước lao động tập thể) là sự thay đổi cơ bản trong quan hệ lao động. Lợi ích cá nhân của người lao động được thể hiện, bảo đảm thông qua hợp đồng lao động và có sức mạnh hơn thông qua đại diện của họ (Ban chấp hành Công đoàn cơ sở) trong thoả ước lao động tập thể. Đồng thời, các quyền va lợi ích của người sử dụng lao động cũng được pháp luật bảo hộ. Bằng các đạo luật: Luật công đoàn, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Bộ luật lao động và Qui chế lao động trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Nghị định của Chính Phủ về thoả ước lao động tập thể, về hợp đồng lao động, về bảo hiểm.
xã hội, về việc làm. Nha nước đã từng bước tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để các bên thiết lập và duy trì sự ổn định của quan hệ lao động, như là biện pháp bảo đảm lợi ích của các bên và làm cho các lợi ích đó hài hoà với lợi ích xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ lao động trở nên sống động, đa dạng và phức tạp, mục đích nhằm dat lợi ích tối đa trong việc mua bán và sử dụng sức lao động đã trở thành động lực trực tiếp của các bên khi tham gia quan hệ lao động, thì tranh chấp lao động trở thành vấn đề khó tránh khỏi. Tranh chấp lao động là những biểu hiện thực tế sinh động nhất thực trạng các mối quan hệ lao động, trong đó người lao động thì quan tâm đến lợi ích cá nhân theo sự tiêu hao sức lao động và hiệu quả, năng xuất lao động tạo ra, còn người sử dụng lao động thì quan tâm đến lợi nhuận, nghĩa là làm sao để chi phí tối thiểu nhưng thu lợi nhuận tối đa.
Trong quá trình diễn ra quan hệ lao động, không phải bất cứ lúc nào người lao động và người sử dụng lao động cũng dung hoà được với nhau về tất cả các vấn đề. Giữa họ, lúc này hay lúc khác, đều có thể xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động. Trong đó, có những bất đồng hai bên tự thương lượng và thoả thuận được với nhau, nhưng cũng có những bất đồng giải quyết bằng tự thương lượng giữa các bên sẽ không đạt được kết quả. Trong trường hợp đó, các bên sẽ phải nhờ đến người thứ ba, hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trên thực tế, không phải tất cả những bất đồng về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động đều dẫn đến tranh chấp lao động. Những bất đồng giữa các bên trong quan hệ lao động chỉ được coi là tranh chấp lao động khi các bên từ chối thương lượng hoặc đã thương lượng mà không giải quyết được và một trong hai bên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình. Như vậy, tranh chấp lao động có nguồn gốc phát sinh từ những mâu thuẫn cần phải giải quyết trong phạm vi quan hệ lao động. Nếu những bất đồng giữa hai bên không phải từ trong quá trình thuê mướn sử dụng lao động thì không được coi là tranh chấp lao động, 1.2- Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp lao động Cho đến nay, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà mỗi nước có những quan niệm không hẳn giống nhau về tranh chấp lao động.
Từ đó dẫn đến mỗi nước có những cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cũng không han giống nhau. Pháp luật lao động của Inđônêxia định nghĩa tranh chấplao động là: "Sự tranh chấp giữa công đoàn với Ban quản lý hoặc người sử dụng lao động” Còn Malaixia trong đạo luật về quan hệ công nghiệp 1967 thì định nghĩa tranh chấp lao động là "bất kỳ trong một sự tranh chấp nào giữa người sử dụng lao động với công nhân của người đó mà có liên quan đến sử dụng lao động hay những điều kiện làm việc của bất kỳ một công nhân nào kể trên". Từ quan niệm như vậy, Malaxia phân biệt tranh chấp lao động về hai loại vấn đề: Loại tranh chấp về quyền và loại tranh chấp về lợi ích. Tranh chấp về quyền là những tranh chấp có liên quan đến việc công nhận các Công đoàn, hoặc quyền của một Công đoàn nào đó được đại diện cho một lớp hay một loại công nhân riêng biệt nào đó; những tranh chấp về việc không chấp hành đúng thoả ước lao động tập thể và những tranh chấp nẩy sinh từ việc vi phạm luật lệ bảo hộ lao động.
Tranh chấp về lợi ích là những tranh chấp nảy sinh từ những bất đồng bế tắc trong khi thương lượng về ký kết thoả ước tập thể và cả những khiếu nại hàng ngày của người lao động. Ở nước ta, tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật lao động quy định “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích có liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề ". Tranh chấp lao động có những nét riêng biệt làm cho nó khác với loại tranh chấp thể hiện một số độc điểm đặc thù như sau: - Tranh chấp lao động luôn phát sinh từ quan hệ lao động, gắn liền với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ lao động. Như vậy, những tranh chấp mà không phát sinh trực tiếp từ việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và từ lợi ích của các bên thì không phải là tranh chấp lao động.
- Tranh chấp lao động không chỉ bao gồm những tranh chấp và quyển và nghĩa vụ chủ thể mà còn gồm cả những tranh chấp về lợi ích giữa hai bên chủ thể của quan hệ lao động. 10 Tức là tranh chấp lao động vẫn có thể phát sinh trong những trường hợp có hoặc không có sự vi phạm pháp luật. Đặc điểm này phát sinh từ bản chất của quan hệ lao động là tự do thương lượng và thoả thuận. Trên cơ sở đó, các bên tự thương lượng và thoả thuận với nhau nhằm mục đích thiết lập quyền và nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên trong quá trình thực hiện lao động.
- Tranh chấp lao động là loại tranh chấp mà tuỳ theo quy mô và mức độ tham gia của các chủ thể có thể làm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ tranh chấp. Tuy theo mức độ tham gia của một bên tranh chấp là người lao động mà có thể phân thành tranh chấp lao động cá nhân hoặc tranh chấp lao động tập thể. Tranh chấp lao động nếu chỉ phát sinh một người lao động và người sử dụng lao động hoặc đối tượng tranh chấp chỉ liên quan đến quyền lợi của một người - cá nhân người lao động thì tranh chấp đó chỉ đơn thuần là tranh chấp lao động cá nhân. Sự ảnh hưởng của tranh chấp này đối với hoạt động sản xuất kinh doanh dẫu sao cũng chỉ ở mức độ hạn chế.
Nhưng nếu tranh chấp xảy ra giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động thì đó là tranh chấp lao động tập thể và có thể tác động tiêu cực đến sản xuất và nhiều khi ảnh hưởng đến cả trật tự công cộng và lợi ích xã hội. - Tranh chấp lao động là loại tranh chấp có tác động trực tiếp và rất lớn đối với người lao động, nhiều khi còn có thể tác động đến an ninh Quốc gia, trật tự an toàn công cộng và kinh tế quốc dân.