CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG 6 1. Khái niệm, đặc điểm của đình công và pháp luật về đình công 1. Khái niệm đình công Theo Từ điển luật học, “Đình công là sự ngừng bộ phận hoặc toàn bộ quá trình sản xuất, dịch vụ do tập thể những người lao động cùng nhau tiến hành với yêu sách người sử dụng lao động phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động hoặc làm thỏa mãn những yêu sách và các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động”1. Theo Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc thì “Các quốc gia tham gia công ước này cam kết bảo đảm quyền đình công của người lao động miễn quyền này được thực hiện phù hợp với pháp luật của mỗi nước” 2.
Theo Công ước này thì đình công được quy định phù hợp với những điều kiện khác nhau của mỗi quốc gia và các quốc gia phải tôn trọng, có nghĩa vụ thúc đẩy các quyền này và không được hạn chế nó. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về quyền đình công trong “Bản tổng khảo sát về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể” do Ủy ban các chuyên gia về việc áp dụng các công ước khuyến nghị của ILO trình bày tại hội nghị lao động quốc tế kỳ 69 vào năm 1983 thì “Quyền đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà người lao động và tổ chức của họ có thể sử dụng để bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình. Việc sử dụng quyền đình công không chỉ nhằm đạt được điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp mà nhằm tìm ra những giải pháp cho những vấn đề chính sách kinh tế - xã hội và mọi vấn đề lao động mà người lao động trực tiếp quan tâm”. Theo Tổ chức này thì tuỳ vào điều kiện của mỗi quốc gia nhưng phải trên cơ sở của ILO quy định.
1 Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, Tr. 2 Điểm d khoản 1 Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc năm 1966. 7 Vấn đề đình côngđược đề cập và định nghĩa lần đầu trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều cho BLLĐ 2006 và BLLĐ Việt Nam 2012 thì đình công được định nghĩa “đình công là sự ngưng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động”3. Khi BLLĐ Việt Nam 2019 có hiệu lực thì “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo”4.Có thể thấy đình công tác động dưới hai góc độ: Dưới góc độ kinh tế - xã hội: đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi những người lao động nhằm gây sức ép để đạt được những yêu sách gắn với lợi ích kinh tế hoặc lợi ích nghề nghiệp liên quan đến tiền lương, thời gian làm việc, chế độ bảo hiểm.
Đình công được coi là “vũ khí” mà những người lao động sử dụng để đe dọa gây thiệt hại kinh tế với người sử dụng lao động, nhằm mục đích giải quyết những bất đồng về quyền và lợi ích theo hướng có lợi cho tập thể người lao động. Bên cạnh đó, đình công để lại hậu quả và thiệt hại kinh tế cho doanh nghiệp thì đồng thời cũng ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động và tập thể người lao động ở một mức độ nhất định khi người lao động ngừng việc. Dưới góc độ pháp lý: đình công là quyền của người lao động được pháp luật thừa nhận, đã trở thành quyền cơ bản của người lao động. Quyền đình công là quyền ngừng việc tạm thời của người lao động nhằm buộc người sử dụng lao động hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách về quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Tuy nhiên, quyền đình công của người lao động được thực hiện thông qua hành vi mang tính tập thể, là sự tự nguyện ngừng việc của những người laođộngvà giới hạn trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép và 3 Điều 209 BLLĐ 2012 4 Điều 198 BLLĐ 2019 8 phải tuân theo những trình tự và thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở phân tích trên, có thể thấy đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế của những người lao động, được thực hiện bằng cách ngừng việc tập thể, có tổ chức nhằm gây sức ép buộc người sử dụng lao động phải chấp nhận các yêu sách gắn với quyền và lợi ích của người lao động. Những đặc điểm của đình công Bộ luật Lao động năm 2019 đã nêu được đầy đủ bản chất cũng như các biểu hiện của đình công với những đặc trưng cơ bản sau: Một là, đình công là phản ứng thể hiện bằng sự ngưng việc tạm thời của người lao động. Biểu hiện cơ bản của đình công là sự ngưng việc chủ động của người lao động (NLĐ), không thực hiện nghĩa vụ lao động như đã cam kết với người sử dụng lao động (NSDLĐ) và sự ngưng việc này không được sự đồng ý của NSDLĐ nhằm mục đích tạo sức ép để NSDLĐ đáp ứng yêu sách của mình.
Nếu yêu sách được đáp ứng họ sẽ ngay lập tức trở về làm việc ngay. Hai là, đình công phải thực hiện trên tinh thần tự nguyện của người tham gia đình công là người lao động. Đình công là quyền của NLĐ, thể hiện ý chí của NLĐ là quyền của NLĐ không bị người khác bắt ép, cưỡng ép tham gia vào cuộc đình công. Tuy nhiên, đình công phải bảo đảm theo trình tự thủ tục và những quy định của pháp luật, trên tinh thần tự nguyện.
Pháp luật nghiêm cấm:Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc NLĐ đình công; cản trở NLĐ không tham gia đình công đi làm việc. Dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của NSDLĐ. Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ, người lãnh đạo đình công hoặc điều động NLĐ, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công.
Trù dập, trả thù NLĐ tham gia đình công, người lãnh đạo đình công. Lợi dụng đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác5 5 Điều 208 Bộ luật Lao động năm 2019. 9 Ba là, đình công có tính tập thểvà do tập thể NLĐ tiến hành. Dấu hiệu này đảm bảo số lượng người NLĐ tham gia vào cuộc đình công, nó không chỉ biểu hiện ở số lượng người tham gia ngưng việc mà còn thể hiện ở ý chí, mục đích chung của NLĐ.
Khi tham gia vào đình công thì tập thể NLĐ phải có cùng một mục đích hướng tới và hướng tới chung mộtNSDLĐ. Sự ngừng việc đình công phải do nhiều người lao động tiến hành, đây chính là sự phản ứng tập thể của NLĐ. Sự tham gia của tập thể người lao động vừa là một trong những biểu hiện bên ngoài của đình công, vừa là dấu hiệu không thể thiếu của đình công. Tính tập thể ở đây thể hiện thông qua hành vi ngừng việc của nhiều người với cùng một động cơ, mục đích giống nhau, cùng nhau phối hợp một cách chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả trong quá trình đình công6 nhằm mục đích gây sức ép đối với người sử dụng lao động.
Như vậy tính tập thể của một cuộc đình công thể hiện ở ý chí, mục đích chung của NLĐ có cùng một mục đích hướng tới và hướng tới chung một NSDLĐ. Bốn là, mục đích của đình công là nhằm đạt được yêu sách gắn với lợi ích của tập thể NLĐ. Mục đích của đình công gây sức ép cho người sử dụng lao động nhằm đưa ra những yêu sách, đòi hỏi muốn được đáp ứng. Những yêu sách này có thể xuất phát từ những nhu cầu chính đáng, cũng có thể xuất phát từ những nguyện vọng khácnhưng phải chú ý mục đích của cáccuộc đình công phải là quyền, lợi ích đang tranh chấp nằm trong phạm vi của quan hệ lao động gắn với lợi ích nghề nghiệp của họ.
Đó có thể chỉ là những yêu cầu buộc người sử dụng lao động phải thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết với người lao động trước đó trong hợp đồng lao động hoặc trong thỏa ước lao động tập thể. Nhưng đó cũng có thể là những yêu sách đưa ra mà cả hai chưa có thỏa thuận với nhau trước đó và trong tình hình mới việc không đáp ứng những nhu cầu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống người lao động. Pháp luật về đình công 6 Vũ Dũng, Tâm lý xã hội và quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, 1995, tr 46. Khái niệm Theo Bộ luật Lao động năm 2019 thì “đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo”7 Có thể thấy, đình công là quyền cơ bản của NLĐ mục đích để bảo vệ quyền lợi của NLĐ thông qua sự ngưng việc tạm thời của NLĐ nhưng mặt khác đình công cũng gây ảnh hưởng đến NSDLĐ, lợi ích của các chủ thể tham gia QHLĐ và lợi ích chung của cộng đồng nếu không được kiểm soát tốt.
Do đó, pháp luật đình công là mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của NLĐ, NSDLĐ, tổ chức đại diện của NLĐ, tổ chức đại diện của NSDLĐ trong quan hệ lao động và cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với sự ngừng việc tạm thời của NLĐ.