chương 1 của luận án. 10 6) Ở trong nước, trong nhiều các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Như Phát, một trong những bài viết có giá trị cả về lý luận và thực tiễn có thể kể đến bài viết đăng Tạp chí Nh nước và Pháp luật năm 2003 của PGS.TS Nguyễn Như Phát “Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước”[27], tác giả đề cập đến khá nhiều vấn đề như khái niệm, đặc điểm, chức năng của điều kiện thương mại chung, bảo vệ khách h ng trước các điều kiện thương mại chung trái pháp luật, pháp luật về điều kiện thương mại chung ở một số quốc gia và một số kiến nghị gợi mở hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam. Những nội dung n y được tác giả tiếp tục đăng tải trong Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi của NTD của Trường Đại học Luật Hà Nội [36] và sách chuyên khảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”[28]. Đ y l những nghiên cứu gần như sớm nhất ở Việt Nam về ĐKGDC v tương đối toàn diện những vấn đề của ĐKGDC.
7) Bài viết “ n về ĐKGDC của doanh nghiệp”đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật của PGS.TS Tăng Văn Nghĩa [24], tác giả nghiên cứu các vấn đề về khái niệm ĐKGDC, sự khác nhau giữa hợp đồng theo mẫu v ĐKGDC, giá trị pháp lý, những ưu nhược điểm của ĐKGDC, khả năng áp dụng ĐKGDC trong kinh doanh quốc tế, thực tiễn sử dụng ĐKGDC tại Việt Nam, xu hướng sử dụng ĐKGDC v đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng ĐKGDC trong giai đoạn hiện nay. Đ y l những nội dung cơ bản về ĐKGDC giúp NCS c điều kiện nghiên cứu s u hơn v l m rõ hơn về những vấn đề mà tác giả đã đặt ra trong bài viết. Ở Việt Nam, trước khi LDS năm 2015 được thông qua, trong nhiều hội thảo chuyên đề góp ý cho dự thảo BLDS sửa đổi, điều khoản quy định ĐKGDC đã được các chuyên gia pháp lý, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan t m, đ ng g p ý kiến bởi ĐKGDC đã được đưa v o dự thảo LDS năm 2005 sửa đổi. Nhiều bài viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về ĐKGDC đã được các nhà nghiên cứu khai thác, chẳng hạn như: 8) Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga năm 2016 về “Pháp luật về điều kiện thương mại chung – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”[22].
NCS cho rằng đ y l một công trình nghiên cứu chuyên sâu về điều kiện thương mại chung mà xét về bản chất như l ĐKGDC nhưng xét ở phạm vi điều chỉnh thì ĐKGDC c 11 phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với điều kiện thương mại chung. Công trình nghiên cứu giúp NCS có góc nhìn khá toàn diện những vấn đề lý luận về ĐKGDC v thực tiễn sử dụng ĐKGDC trong một số hoạt động kinh doanh hiện nay. Quan điểm của tác giả về điều kiện thương mại chung có nhiều điểm tương đồng, phù hợp với bản chất của ĐKGDC, l m cơ sở lý luận cho việc xây dựng luận cứ khoa học về ĐKGDC, c giá trị tham khảo để NCS tiếp tục nghiên cứu v l m rõ hơn bản chất của ĐKGDC trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa. 9) Bài viết của tác giả Nguyễn Giang Nam “ ình luận về các quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu v điều kiện giao dịch chung trong Dự thảo ộ luật D n sự (sửa đổi) [20] phân tích, bình luận một số nội dung của ĐKGDC trong dự thảo LDS năm 2015 sửa đổi như khái niệm, điều kiện c hiệu lực của ĐKGDC, cơ chế kiểm soát v giải thích ĐKGDC.
i viết cũng đặt ra một số vấn đề nghiên cứu NCS đã tham khảo trong chương 2 v 4 của luận án. Ngoài ra, một số bài viết chủ yếu phản ánh về những cái bẫy điều kiện thương mại chung trong hợp đồng mà doanh nghiệp đưa ra, g y bất lợi cho NTD, chẳng hạn như b i viết của tác giả Văn Th nh “Thực tiễn thực hiện các điều kiện thương mại chung và những vấn đề đặt ra để bảo vệ NTD” [30], “Nhu cầu kiểm soát điều kiện thương mại chung” của Nguyễn Thị Hồng Hạnh [9], “Về hợp đồng mẫu trong cung ứng thương mại d ch vụ”của Phan Thảo Nguyên [26]. NCS sử dụng tham khảo để l m rõ hơn một số nội dung trong chương 2, 3, 4 của luận án. - Các tài liệu, bài viết về giá tr pháp lý của điều kiện giao d ch chung Về giá trị pháp lý của ĐKGDC.
Qua việc tìm hiểu một số các giáo trình, tài liệu học thuật và các công trình nghiên cứu lý luận về ĐKGDC hiện nay cho thấy về giá trị pháp lý của ĐKGDC được một số ít các tác giả đề cập đến. Trong số các tài liệu, bài viết về giá trị pháp lý của ĐKGDC thì phải kể đến các bài viết: “Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước” [27]; “Bàn về ĐKGDC của doanh nghiệp” [24]… Theo đ , ĐKGDC có giá trị ràng buộc bên được đề nghị giao kết, không phụ thuộc vào việc họ đã đọc kỹ n hay chưa v việc thiết lập những điều kiện thương mại chung được áp dụng đồng đều cho mọi khách hàng ngoài mục tiêu là nhằm hợp lý hóa bán hàng còn giúp cho các bên có thể tiết kiệm được thời gian, 12 sức lực trong đ m phán v thỏa thuận. Thông qua những điều kiện thương mại chung, các nhà cung cấp hình th nh được những “luật chơi riêng” của mình, ngăn ngừa những rủi ro nhận thức của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, phân chia rủi ro pháp lý, trách nhiệm giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng… Các b i viết này đã c những nhận định xác thực về giá trị pháp lý của ĐKGDC, tác giả luận án không bàn luận mà kế thừa kết quả nghiên cứu n y l m cơ sở để xác định giá trị pháp lý của ĐKGDC được phân tích ở chương 2 luận án. - Các tài liệu nghiên cứu về quyền tự do hợp đồng liên quan đến đề tài luận án 10) Các công trình nghiên cứu về quyền tự do hợp đồng c liên quan đến đề tài của luận án mà tác giả tiếp cận bao gồm các công trình nghiên cứu, bài viết: [6], [14], [22], [24], [36], [50].
Trên cơ sở lý thuyết truyền thống về hợp đồng được xây dựng theo nguyên tắc tự do hợp đồng, các tác giả đều cho rằng hợp đồng phải là sự thỏa thuận giữa các bên, thể hiện tự do ý chí của các bên tham gia hợp đồng, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận của hợp đồng. Một hợp đồng sẽ công bằng khi các bên được quyền tự do ý chí của mình, đặc biệt phải kể đến Luận án Tiến sĩ luật học “Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam”[6]của tác giả Phạm Hoàng Giang nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện, mang tính hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại. Ngoài những nội dung cơ bản của ĐKGDC, các tài liệu nghiên cứu n y cũng phân tích, chứng minh việc sử dụng ĐKGDC đã l m hạn chế quyền tự do hợp đồng của các bên trong quan hệ hợp đồng. Tiếp cận ở góc độ nghiên cứu n y, các công trình nghiên cứu đã ph n tích, bình luận và nhận định việc sử dụng ĐKGDC trong các hợp đồng đã l m hạn chế quyền tự do thỏa thuận hợp đồng của bên không soạn thảo ĐKGDC v như vậy không đảm bảo nguyên tắc tự do hợp đồng của BLDS.
Việc sử dụng các ĐKGDC trong hợp đồng có thể sẽ gây ra những bất lợi cho khách hàng, không đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng. Vậy việc sử dụng các ĐKGDC trong HĐ H h ng h a c ngoại lệ hay không, các công trình nghiên cứu n y l cơ sở để NCS tiếp tục phân tích, chứng minh quan điểm trên trong luận án. 13 - Các tài liệu nghiên cứu về thông tin bất cân xứng Khi phân tích về mối quan hệ bất cân xứng giữa các bên trong hợp đồng mua bán, trong bài viết “One-Sided Contracts in Competitive Consumer Markets” [44], tác giả Lucian A. ebchuk and Richard A.
Posner đã phân tích bên bán thường là bên đưa ra những điều khoản soạn sẵn có lợi cho mình v bên mua thường là bên yếu thế - họ luôn ở vị thế bất lợi về thông tin m người bán cung cấp(One-Sided Contracts). Do đ , tác giả cho rằng để bảo vệ quyền lợi của bên mua thì pháp luật cần phải có sự kiểm soát các điều khoản đ. Khi cần phải giải thích các điều khoản hợp đồng thì phải giải thích theo hướng có lợi cho người mua mà chủ yếu l người tiêu dùng. Ở Việt Nam, tác giả Phạm Duy Nghĩa trong b i viết "Điều chỉnh thông tin bất c n xứng v quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam" [23] cũng đề cập nhiều đến vấn đề bất c n xứng về thông tin của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Những nghiên cứu n y sẽ được NCS tham khảo để đánh giá hạn chế của ĐKGDC v biện pháp kiểm soát các ĐKGDC trong hợp đồng. - Các tài liệu nghiên cứu về xu hướng s dụng điều kiện giao d ch chung Liên quan đến vấn đề n y cũng c một số bài viết đề cập tới bao gồm: [7], [9], [24], [26], [28]. Tổng quan các tài liệu tiếp cận dưới g c độ lịch sử đều có chung quan điểm l ĐKGDC xuất hiện từ lâu, khoảng giữa thế kỷ 19 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng và hiện nay, xu hướng tự do hóa thương mại toàn cầu thúc đẩy các hoạt động kinh doanh diễn ra sôi nổi buộc các doanh nghiệp phải có những cách thức giao dịch được tiêu chuẩn hóa, chính xác và ổn định. Bởi vậy, sử dụng ĐKGDC l xu hướng tất yếu trong giai đoạn hiện nay và phổ biến ở các các lĩnh vực kinh doanh đặc thù như bảo hiểm, xây dựng, tài chính, ngân hàng, vận tải, viễn thông … Kết quả nghiên cứu n y được tác giả luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu s u hơn về sự hình thành và phát triển của ĐKGDC.
Nhóm các nghiên cứu pháp luật nước ngoài về điều kiện giao dịch chung Tổng quan các tài liệu nghiên cứu quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về ĐKGDC c thể kể đến các tài liệu: [12], [13], [14], [22], [27], [45], [50], [59].