CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN ĐIỆN TỬ 1. KHÁI QUÁT VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN 1. Nguồn gốc ra đời của vận đơn đường biển - Xuất phát từ ngành vận tải biển Thời điểm những năm 1.200 TCN là lúc các chuyến tàu buôn bán đầu tiên của người dân Ai Cập cập bến bán đảo Sumatra, Indonesia, cột mốc quan trọng của ngành vận tải biển thế giới.
Các tuyến thương mại quốc tế bắt đầu được thành lập nhờ sự xuất hiện của các tàu buôn đến từ Trung Quốc khi họ thực hiện các hải trình qua Ấn Độ Dương ở thế kỷ thứ X. Thông qua sự kết giao của hai nền văn minh lâu đời nhất thế giới đã thay đổi nhận thức của người dân lúc bấy giờ về vận tải đường biển việc vận chuyển hàng hóa xuyên lục địa bằng đường biển nhanh chóng trở thành xu thế vận tải chính giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. - Sự hình thành của vận đơn Khi lượng hàng hóa giao dịch bằng đường biển phát triển mạnh ở khu vực Địa Trung Hải, nhu cầu lưu giữ số lượng hàng hóa buôn bán phát sinh, vì vậy các thuyền phó đã sử dụng giấy biên nhận hàng hóa để ghi nhận, tuy nhiên chưa phổ biến. Học giả McLaughlin cho biết, từ năm 1063, các tàu được quy định cần có một nhân viên chịu trách nhiệm ghi nhận số lượng hàng được xếp dỡ lên tàu vận chuyển trên các tuyến ở vùng biển Địa Trung Hải.
Tới năm 1350, xuất hiện quy định các chứng từ, nếu không được ký phát bởi nhân viên chuyên trách, sẽ không được công nhận giá trị. Như vậy, thông qua giấy biên nhận giúp người vận chuyển nắm được thông tin của người nhận hàng ở cảng nơi đến, đây cũng chính là tiền đề của vận đơn đường biển ngày nay. - Quá trình phát triển của vận đơn Vào thế kỷ XVI ở Châu Âu, các quốc gia như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh phát triển mạnh mẽ ở ngành hàng hải đã cùng nhau thành lập nên tuyến thương mại đường biển quốc tế, tăng cường các giao dịch buôn bán hàng hóa giữa các nước nằm trên các tuyến hàng hải được xác lập. 5 Khi việc giao thương bằng đường biển trở nên phổ biến cũng là lúc xuất hiện những tình huống chủ hàng đã gửi hàng vận chuyển nhưng chưa xác định được người mua là ai, vì vậy họ nghĩ tới việc sử dụng một chứng từ có thể chuyển giao quyền sở hữa hàng hóa đang được vận chuyển trên biển, hoặc cho phép người mua bất kỳ nhận hàng ở cảng đích.
Không lâu sau đó, các bộ hồ sơ bao gồm vận đơn được sử dụng cho các phiên tranh tụng tại Tòa án Hàng hải Anh quốc đã hình thành nên chức năng chuyển nhượng của vận đơn. Cụ thể, loại vận đơn thứ nhất có thể chuyển nhượng cho người chủ hàng hay còn gọi là người gửi hàng hoặc đại lý, người được chủ hàng ủy quyền. Loại vận đơn còn lại theo quy định sẽ được chuyển giao quyền sở hữu cho bên thứ ba đó là người mua hoặc người được người mua ủy quyền. Trong giai đoạn này, do người gửi hàng gặp bất tiện khi mỗi lần gửi hàng là một lần ký hợp đồng thuê tàu nên một số vận đơn đã đóng vai trò như một hợp đồng thuê tàu, tuy nhiên hiện tượng này là chưa phổ biến.
- Được công nhận bởi quốc tế Sự phổ biến của việc sử dụng vận đơn đã đề ra yêu cầu cấp thiết về sự công nhận và thống nhất về mặt luật pháp điều chỉnh loại chứng từ này. Một số công ước quốc tế ra đời nhằm thống nhất luật điều chỉnh vận đơn đường biển bao gồm: công ước Brussels 1924, Nghị định thư Visby 1968, Quy tắc Hamburg 1978, Quy tắc Rotterdam 2009, các quy tắc thống nhất của Ủy ban hàng hải quốc tế về vận đơn đường biển và vận đơn điện tử 1990. Khái niệm và đặc điểm của vận đơn đường biển Trên thế giới, theo công ước quốc tế Hamburg 1978 của Liên Hiệp Quốc về vấn đề chuyên chở hàng hóa bằng đường biển hiện đang có hiệu lực và được sử dụng nhiều nhất, tại Khoản 7, Điều 1: “Vận đơn đường biển là một chứng từ làm bằng chứng cho một hợp đồng vận tải đường biển và cho việc người chuyên chở đã nhận hàng để chở hoặc xếp hàng xuống tàu và bằng vận đơn này, người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng khi xuất trình nó. Một điều khoản trong chứng từ này quy định rằng lô hàng phải được 6 giao theo lệnh của người được ghi đích danh hoặc giao theo lệnh, hoặc giao cho người cầm vận đơn chính là sự cam kết đó.” Tại Việt Nam, Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam năm 2015 quy định tại Khoản 2, Điều 148: “Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.” Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu vận đơn đường biển (Bill of Lading), có tên gọi khác là vận đơn hay B/L là một chứng từ được sử dụng trong phương thức vận tải đường biển do một chủ thể có chức năng chuyên chở ký phát, có giá trị là bằng chứng của một hợp đồng chuyên chở và được sử dụng cho việc giao - nhận hàng hóa trong thương mại quốc tế.
Vận đơn đường biển thường có các tên gọi như sau: - Bill of Lading - Ocean Bill of Lading - Marine Bill of Lading - Sea Bill of Lading - Liner Bill of Lading - Port to Port Shipment Bill of Lading - Through Bill of Lading Hoặc: - Bill of Lading for Combined Transport Shipment or Port to Port Shipment - Bill of Lading for Multimodal Transport Shipment or Port to Port Shipment Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng không thể căn cứ vào tiêu đề để xác định một chứng từ là vận đơn đường biển, mà cần căn cứ vào hành trình chuyên chở của chứng từ đó liệu có phải là từ cảng biển tới cảng biển (port to port) hay không. Đặc điểm của vận đơn đường biển: - Hàng hóa bắt buộc được vận chuyển bằng đường biển 7 - Vận đơn gốc có chức năng sở hữu hàng hóa (ngoại trừ vận đơn đích danh, bản sao của vận đơn (draft), vận đơn được thể hiện rõ không thể chuyển nhượng được: “non-negotiable”) - Chủ thể ký phát vận đơn cần có chức năng của người chuyên chở, tức cần có giấy phép đăng ký kinh doanh vận tải hợp pháp, có thể là người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý hợp pháp của người chuyên chở hoặc thuyền trưởng. - Thời điểm ký phát vận đơn có thể là: + Sau khi hàng hóa được bốc xong lên tàu (Shipped on board) + Sau khi hàng hóa được nhận để chở (Received for shipment) 1. Chức năng của vận đơn đường biển Là một trong những chứng từ quan trọng nhất của phương thức vận tải hàng hải, vận đơn đường biển có ba chức năng chính sau: Trước tiên, vận đơn đường biển đóng vai trò là biên lai nhận hàng để chở, mục đích nhằm xác nhận việc người chuyên chở đã nhận hàng từ người gửi.
Bên cạnh đó, vận đơn còn nhằm xác nhận số lượng, chủng loại và tình trạng hàng hóa được giao tới người chuyên chở nhằm đảm bảo hàng hóa sẽ được giao nguyên vẹn tới người nhận hàng ở cảng đích. Người chuyên chở tiến hành đánh giá tình trạng hàng hóa thông qua việc thêm ghi chú lên tờ vận đơn, trong trường hợp không có ghi chú của người chuyên chở, vận đơn mặc định công nhận hàng hóa được giao tới trong “tình trạng bên ngoài thích hợp” (all appearance good in order and condition). Chức năng tiếp theo của vận đơn chính là được coi như bằng chứng xác nhận của một hợp đồng chuyên chở. Trên vận đơn đường biển được quy định đầy đủ các điều khoản về nghĩa vụ và quyền hạn của người chuyên chở cũng như các thông tin về việc vận chuyển hàng hóa theo yêu cầu của người gửi hàng.
Đây chính là cơ sở pháp lý được dùng để giải quyết khi phát sinh tranh chấp giữa người ký phát và người sở hữu vận đơn. Tuy nhiên, do vận đơn đường biển chỉ có chữ ký từ một phía là người chuyên chở, vậy nên đây chưa được công nhận là một hợp đồng chuyên chở. Cuối cùng, vận đơn đường biển có chức năng sở hữu hàng hóa, hay còn được gọi là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa. Chức năng này giúp cho vận đơn có 8 thể được mua bán, chuyển nhượng không giới hạn số lần, chủ thể sở hữu được thể hiện trên vận đơn sẽ là người có quyền xuất trình vận đơn để nhận hàng từ người chuyên chở.
Luật pháp điều chỉnh vận đơn đường biển 1. Luật pháp quốc tế Vận đơn đường biển chịu sự điều chỉnh của các công ước quốc tế về vận tải hàng hóa bằng đường biển. - Công ước ước quốc tế Brussels 1924 Công ước quốc tế Brussels được ký ngày 25 tháng 8 năm 1924 tại Brussels bởi 26 quốc gia và có hiệu lực từ ngày mùng 2 tháng 6 năm 1931, có tên gọi khác là quy tắc Hague (Hague rules). Đây là công ước quốc tế đầu tiên quy định các quy tắc về vận đơn đường biển, tuy nhiên do nhận thấy những điểm chưa hợp lý phát sinh trong quá trình áp dụng mà quy tắc này đã được sửa đổi vào ngày 23 tháng 2 năm 1968, được áp dụng chính thức từ ngày 23 tháng 6 năm 1977 với bản sửa đổi có tên gọi là: Visby Rules (Nghị định thư sửa đổi công ước quốc tế để thống nhất một số thể lệ về vận đơn đường biển).
Từ đây ra đời quy tắc Hague-Visby là sự thống nhất hai văn bản pháp lý trên. - Công ước quốc tế Hamburg 1978 Công ước Hamburg là Liên Hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển được ký tại Hamburg, Đức có hiệu lực ngày 1/11/1992. Công ước này ra đời là kết quả của sự đấu tranh về quyền lợi của của các chủ hàng trước người chuyên chở do họ nhận thấy sự thiếu công bằng trong quy tắc Hague-Visby. - Công ước quốc tế Rotterdam 2009 Tuy các công ước và quy tắc ở trên đã có thời hạn hiệu lực lâu đời, được sử dụng phổ biến trong ngành hàng hải nhưng cũng vì ra đời từ sớm nên còn thiếu tính cập nhật với sự phát triển của thế giới ở các lĩnh vực khoa học công nghệ và và thương mại quốc tế.