CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU HÒA XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA CHỦ NỢ VÀ CON NỢ THÔNG QUA THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN 1. Khái quát về thủ tục thanh lý tài sản trong pháp luật phá sản 1. Khái niệm thủ tục phá sản Pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay chưa đưa ra định nghĩa riêng về thủ tục phá sản.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thủ tục là từ dùng để diễn tả những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức [32, tr. Các tác giả Nguyễn Văn Thâm và Võ Kim Sơn cũng đưa ra định nghĩa “thủ tục là phương thức hay cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định” [36, tr. Như vậy, có thể hiểu thủ tục là tổng hợp các hoạt động cần được thực hiện theo một trình tự nhất định để hoàn thành một công việc cụ thể. Về thuật ngữ phá sản (bankruptcy), pháp luật phá sản của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của pháp luật phá sản của Pháp xem phá sản là một chế định quan trọng của luật thương mại, là một quy chế áp dụng cho thương nhân (bao gồm thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân).
Các vụ việc về phá sản thông thường thuộc thẩm quyền của các tòa thương mại mà các thẩm phán ở đó được tuyển chọn từ các thương nhân, còn những vụ việc phá sản có dấu hiệu tội phạm lại thuộc thẩm quyền của các tòa hình sự [6]. Ở Việt Nam, Bộ luật Thương mại năm 1972 sử dụng hai thuật ngữ là khánh tận và phá sản. Trong đó, khánh tận được hiểu tương đương với khái niệm mất khả năng thanh toán, còn phá sản là một quy trình được dùng cho trường hợp thương nhân phạm tội, hay để chỉ cho một loại tội phạm. Theo Từ điển tiếng Việt, “phá sản là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ” [32, 10 tr.
Theo từ điển Luật học, phá sản được định nghĩa là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán nợ đến hạn [42]. Theo quan điểm này, khái niệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có thể xảy ra đối với các chủ thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. LPS DN năm 1993 và LPS 2004 của Việt Nam đã sử dụng thuật ngữ “phá sản” với hai nghĩa không thực sự rõ ràng. Nghĩa thứ nhất, phá sản dùng để chỉ tình trạng phá sản; nghĩa thứ hai, phá sản dùng để chỉ thủ tục phá sản.
Đến LPS 2014, phá sản được định nghĩa là tình trạng của DN, HTX mất khả năng thanh toán và bị TAND ra QĐTBPS [21, Đ4. Khái niệm này đã tiếp cận phá sản dưới góc độ là một quyết định của Tòa án chứ không phải là quá trình, thủ tục ban hành quyết định đó. Về mặt lý luận, có thể hiểu thủ tục phá sản là một quy trình phức tạp bao gồm các bước, các gia đoạn khác nhau, được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau nhằm giải quyết vụ việc phá sản. Theo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, trước tiên thủ tục phá sản được chia thành thủ tục phá sản phi chính thức và thủ tục phá sản chính thức, trong đó: Thủ tục phá sản phi chính thức là việc giải quyết vụ việc phá sản mà không có sự can thiệp của Toà án.
Việc điều hòa và giải quyết các xung đột lợi ích dựa trên sự tự nguyện thoả thuận của thương nhân mắc nợ với các chủ nợ. Thủ tục phá sản chính thức là thủ tục giải quyết vụ việc phá sản bằng Toà án. Các thủ tục này có tên gọi khác nhau, nhưng về cơ bản có hai loại thủ tục chính là thủ tục thanh lý tài sản (thanh toán, thanh lý tài sản và các khoản nợ) và thủ tục phục hồi con nợ (tổ chức lại, cấu trúc lại con nợ và các khoản nợ). Tùy theo đặc thù của từng loại đối tượng áp dụng (các loại con nợ khác nhau) và tính chất của từng vụ việc phá sản cụ thể hay tình trạng tài chính của con nợ mà thủ tục phục hồi và thủ tục thanh lý được áp dụng một cách linh hoạt.
11 Tại Việt Nam, các đạo luật phá sản của Việt Nam từ LPS DN 1993 đến LPS 2004 và LPS 2014 đều chia thủ tục phá sản ra làm hai loại thủ tục là thủ tục phục hồi và thủ tục TLTS (hay còn gọi là thanh toán tài sản), thủ tục phục hồi bao giờ cũng được ưu tiên áp dụng trước nếu DN, HTX mất khả năng thanh toán còn khả năng phục hồi và được các chủ nợ đồng ý thông qua Nghị quyết của HNCN, thủ tục TLTS chỉ được áp dụng khi DN, HTX không còn khả năng phục hồi hoặc không thể phục hồi thành công khi đã được áp dụng thủ tục phục hồi trước đó. Tuy nhiên, quy định về thời điểm tuyên bố DN, HTX phá sản theo LPS 2004 có điểm khác so với LPS DN 1993 và LPS 2014. Theo LPS 2004, Tòa án sẽ chỉ ra quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản sau khi việc TLTS đã hoàn thành. Ngược lại, theo LPS 2014, việc TLTS được thực hiện sau khi có QĐTBPS.
Tại đa số các nước có LPS, thủ tục phá sản đối với các DN được tiến hành bởi Tòa án. Có thể nói, thủ tục phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt vì hoạt động này do Tòa án là cơ quan tiến hành nhưng được thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt, không giống như các hoạt động tố tụng tư pháp khác. Từ những phân tích trên, có thể hiểu, thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp đặc biệt được tiến hành theo trình tự nhất định bởi Tòa án để giải quyết tranh chấp lợi ích về tài sản phát sinh giữa chủ nợ và con nợ do con nợ mất khả năng thanh toán các khoản nợ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán khi có yêu cầu của người có quyền nộp đơn. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, theo quy định của pháp luật phá sản một số nước trên thế giới hiện nay, việc giải quyết vụ việc phá sản còn có thể thực hiện bằng các thủ tục tiền tố tụng.
Ngay tại Việt Nam, trong trường hợp phá sản các DN đặc biệt là tổ chức tín dụng, việc phục hồi hoạt động kinh doanh được thực hiện bởi các cơ quan chủ quản của DN đó theo thủ tục hành chính (Chương VIII LPS 2014). Khái niệm, bản chất và đặc điểm của thủ tục thanh lý tài sản trong pháp luật phá sản a. Khái niệm thủ tục thanh lý tài sản Từ điển tiếng Việt đã đưa ra định nghĩa “thanh lý là bán hoặc hủy bỏ tài sản cố định không dùng nữa hoặc hoàn tất việc thực hiện một hợp đồng giữa các bộ phận liên quan” [33, tr. Với ý nghĩa truyền thống của pháp luật phá sản, TLTS được hiểu là một thủ tục nhằm chuyển hóa toàn bộ tài sản của con nợ thành tiền để thanh toán cho các chủ nợ và chấm dứt hoạt động của con nợ đó.
Theo thông lệ quốc tế, cơ sở pháp lý cho việc TLTS trong thủ tục phá sản là QĐTBPS và chỉ khi đó Tòa án và các thiết chế thực thi mới có thể phân chia sản nghiệp phá sản (tài sản còn lại) của con nợ cho các đối tượng thụ hưởng theo một thứ tự nhất định nhằm đảm bảo sự công bằng. Bởi vậy, trong QĐTBPS thường phải có cả phương án TLTS của con nợ bị tuyên bố phá sản. Nói cách khác, thủ tục TLTS là việc thực thi một trong những yêu cầu của QĐTBPS [30, tr. Pháp luật phá sản Việt Nam cơ bản đã phù hợp với thông lệ quốc tế khi quy định việc TLTS được tiến hành sau khi có QĐTBPS.
Thủ tục TLTS theo các quy định LPS 2014 được hiểu là việc thu hồi và bán tài sản còn lại của DN, HTX bị tuyên bố phá sản, không bao gồm việc phân chia tài sản cho các chủ nợ. LPS Nhật Bản, với mục đích đảm bảo việc TLTS của con nợ một cách hợp lý, công bằng và cơ hội phục hồi đời sống kinh tế của họ, quy định về thủ tục TLTS của con nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán để điều chỉnh một cách hợp lý lợi ích của các chủ nợ và những người liên quan khác cũng như mối quan hệ quyền lợi giữa con nợ và các chủ nợ [46, Đ1]. Pháp luật phá sản của Liên Bang Nga quy định trình tự giải quyết phá sản bao gồm thủ tục tổ chức lại con nợ và thủ tục TLTS. Trong đó, thủ tục TLTS là nhằm đáp ứng một phần yêu cầu của các chủ nợ và giải phóng cho thương nhân mắc nợ khỏi nghĩa vụ, bao gồm: (1) Giải thể bắt buộc con nợ theo quyết 13 định của Tòa án trọng tài; (2) Giải thể tự nguyện bởi con nợ bị phá sản dưới sự kiểm soát của các chủ nợ [44].
Trong thủ thục TLTS, Tòa án trọng tài có chức năng mở và kết thúc thủ tục TLTS; bổ nhiệm nhân viên TLTS; ra quyết định buộc người lãnh đạo DN thôi thực hiện nghĩa vụ quản lý DN; ra quyết định về tính hợp pháp trong hành vi của những người tham gia thủ tục TLTS trong các trường hợp theo quy định của LPS Nga. Dưới góc độ so sánh, thủ tục TLTS đối với thương nhân mắc nợ bị tuyên bố phá sản được nhìn nhận có những điểm khác biệt cơ bản với hoạt động TLTS thông thường của các thương nhân đang hoạt động kinh doanh. Tùy vào tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế mà thương nhân có thể tự nguyện và chủ động thực hiện TLTS của mình. Còn trong vụ việc phá sản, thủ tục TLTS là một thủ tục tư pháp đặc biệt được tiến hành sau khi có QĐTBPS và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Tòa án cũng như chủ thể thực hiện việc quản lý và TLTS.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu, thủ tục TLTS của thương nhân bị tuyên bố phá sản là một hoạt động thực thi QĐTBPS của Tòa án được tiến hành theo một trình tự nhất định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thu hồi tài sản và bán tài sản còn lại của thương nhân mắc nợ nhằm giải quyết tranh chấp lợi ích về tài sản phát sinh giữa các chủ thể trong vụ việc phá sản. Bản chất và đặc điểm của thủ tục thanh lý tài sản Theo quan điểm của PGS.