đặt vấn đề phải có Luật phá sản ở nước ta. Nói đến phá san không it người có ấn tượng rằng đây là sản phẩm riêng của một xã hội tư bản, xa lạ với Việt nam. Nó chỉ làm liên tưởng đến những hậu quả nặng nề như sự khánh kiệt gia sản của chủ doanh nghiệp, nạn thất nghiệp của các công nhân, cảnh các chủ nợ ráo riết bủa vây con nợ v. Thực chất đó chỉ là những định kiến sai lầm do cảm nhận.
Chính cơ chế kinh tế bao cấp kéo dài một cách bất hợp lý mấy chục năm đã khiến cho chúng ta không dám mạnh dan nhìn thẳng vào một sự thật đó là: nên kinh tế nước ta sẽ ngày càng xuống dốc nếu không mạnh dạn loại bỏ những doanh nghiệp quá yếu kém, lấy chỗ cho các đơn vị khác vươn lên. Ngày nay trong công cuộc đổi mới ở nước ta, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đã và đang được Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện phát triển bằng các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh. Trên thương trường đã có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế đang hoạt động và được Nhà nước bảo hộ gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tập thể, công ty trách nhiệm hữu han, công ty cổ phần vv. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật và cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật.
Bởi vậy - l6 - các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đã thực sự phải chịu đựng những thử thách nặng nề để có thể tự đững vững trên thương trường. Nhiều doanh nghiệp đã hoạt động có hiệu quả và đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển của kinh tế - xã hội; tăng thu Ngân sách Nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Song bên cạnh đó là một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đến mức phải phá sản. Do đó phá sẵn trong nền kinh tế thị trường là một xu hướng, một hệ quả tất yếu của quá trình cạnh tranh tự đào thai; qua đó loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, khẳng định được sự tồn tại và phát triển những cơ sở làm ăn có hiệu quả.
Ở nước ta theo số liệu điều tra gần đây con số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã lên đến mức báo động. Thực ra không phải hiện tượng này giờ mới xuất hiện mà trong cơ chế quản lý cũ, nó không có dịp bộc lộ hoặc được giải quyết không triệt để bằng cách này hay cách khác. Những năm trước đây trong khu vực kinh tế quốc doanh, các doanh nghiệp Nhà nước được hình thành một cách ồ ạt, nhưng lại làm ăn kém hiệu quả. Nêu như nam 1990 số doanh nghiệp Nhà nước đã đăng ký kinh doanh là 12084, thì tính đến 31/12/1995 con số nay chỉ còn 6.326 doanh nghiệp (*) tức là giảm gần 50%.
Theo đánh giá, trong số doanh nghiệp Nhà nước còn lại này có tới 20% làm ăn thua lỗ và được xử lý theo các quy định về giải thể doanh nghiệp Nhà nước theo Quyết định 315 HDBT (1/9/1990) va*Nghi dinh 388/HDBT (20/11/1991). Điều này dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhà nước được xoá nợ, khoanh nợ vì vậy đã xảy ra những hiện tượng tiêu cực, tìm mọi cách để được xoá nợ, lẩn tránh trách nhiệm gây tốn hại đến lợi ích của Nnhà nước và các chủ nợ khác, các công nhân xí nghiệp và cả những người có liên quan. Trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng do chưa có Luật phá sản nên nhiều doanh nghiệp thực sự làm ăn thua lỗ đã lâm vào tình cảnh “chết (*) Theo xố liệu báo Việt nam - Đầu tu nước ngoài số ra ngày 25/6 - 117/96 «iF» không được chôn”, có thể bị xử theo luật hình sự hoặc dân sự. Thậm chí có trường hợp các bên còn tự xử theo "luật rừng” làm ảnh hưởng tới trật tự tri an, phá vỡ mối liên kết trong hoạt động kinh té.
Mặt khác cũng có không ít những doanh nghiệp lừa đảo chiếm dụng vốn của nhân dân gây nên nhiều hậu quả xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chính trị an ninh xã hội và chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước, điển hình là “vụ lừa đảo thế kỷ” của Xí nghiệp tư doanh sản xuất mỹ phẩm cao cấp Thanh Hương. Lấy danh nghĩa sản xuất kinh doanh,chủ doanh nghiệp đã huy động được 150 tỷ (năm 1990) trong nhân dân, nhưng thực chất lại đem sử dụng bừa bãi cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Khi ra lên toà về tội "lừa đảo chiếm đoạn tài sản của công dân” số nợ của doanh nghiệp này vẫn còn đến 116 ty đồng. Trước toà Nguyễn Văn Mười Hai vẫn không chịu nhận tội mà nại rằng y không may bị phá sản.
Thậm chí gần đây khi đang "an dưỡng" tại khám Chí Hoà, Nguyễn Văn Mười Hai vẫn cho rằng y bị bỏ tù oan, rằng nếu lúc đó có Luật phá sản y đã không bị ngồi tù(?). Rõ ràng ở đây y đã cố tình không hiểu phá sản do làm ăn thua lỗ hoàn toàn khác với việc dùng chiêu bài huy động vốn kinh doanh để lừa đảo chiếm đoạn tài sản của người khác. Như vậy nếu có Luật phá sản chắc chắn các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh vì được cảnh tỉnh sẽ hoạt động có hiệu quả hơn, hạn chế được những hậu quả xấu cho nền kinh tế xã hội. Chấp nhận phá sản là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, phải xác định được thế nào là một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đồng thời phải xử lý một cách triệt để nhất hậu quả của nó để bảo vệ lợi ích cho các bên chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và ổn định được trật tự xã hội.
Xuất phát từ yêu cầu bức xúc đó, Luật phá sản doanh nghiệp Việt nam đã được bắt đầu xây dựng từ năm 1991. Qua nhiều lần sửa đổi bổ sung và ghi nhận những tư tưởng tiến bộ của Luật phá sản của các nước trên thế giới, THU VIEN _ TPHONG Fu\ ACG LUAT HA NOI PHONG £*^C LA 65 + aa - 18 - ngày 30/12/1993 tại kỳ hop thứ tư Quốc hội khoá IX, Luật phá sản doanh nghiệp đã được thông qua. Có thể nói Luật phá sản doanh nghiệp nước ta đã tao ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết những tồn dong nói trên và góp phần định hướng cho các nhà doanh nghiệp, giúp họ thực sự làm quen với tư duy kinh tế mới trong nền kinh tế thị trường. | Tuy nhiên cho tới nay Luật phá sản nước ta mới chỉ điều chỉnh những đối tượng phá sản là doanh nghiệp gồm 8 loại: + Doanh nghiệp nhà nước + Doanh nghiệp tư nhân + Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội + Công ty trách nhiệm hữu hạn + Công ty cổ phần + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: doanh nghiệp có một phần vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh) và doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài.
+ Doanh nghiệp tập thể Đây là những chủ thể chủ yếu đang hoạt động trên thương trường cần được chú ý, tạo điều kiện cho phát triển trong giai đoạn hiện nay. Vai trò của luật phá san trong nền kinh tế thị trường Là một đạo luật đặc biệt để giải quyết hậu quả của rủi ro trong kinh doanh, Luật phá sản có một vai trò hết sức to lớn trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội, của Nhà nước,của bản thân doanh nghiệp bị mắc nợ và những chủ thể khác có liên quan, đó là: * Về kinh tế: Luật phá sản có vai trò như một công cụ góp phần cơ cấu lại nền kinh tế. Trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, thông qua hình thức hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh - 109- nghiệp, co che phá sản thực sự tạo cơ hội cho con nợ phục hồi sản xuất kinh doanh thoát khỏi nguy cơ phá sản. Qua đó cơ chê phá sản đã góp phần hình thành và day trì môi liên kết bền vững trong nội bộ nền kinh tế giữa các doanh nghiệp tam an thực sự có hiệu qua, đủ sức đứng vững trong điều kiện cạnh tranh gay gat, nhúng cũng đồng thời loại trù những doanh nghiệp làm ăn thua 16 kéo dai, không để cho “căn bệnh truyền nhiễm” nguy hiểm này tiếp tục lây lan, ảnh hướng tới hoạt động kinh tế chung.
Rõ ràng Luật phá sản ra đời không chí dé giải quyết một sự đã rồi. # Về xa hội Phá sản một doanh nghiệp nào đó bao giờ cũng kéo theo những hậu quả nhất định cho xã hội. Chính Nhà nước sẽ là người phải giải quyết hàng loạt các vấn đề nan giải như thanh toán công nợ, nạn thất nghiệp. Với tư cách là người nắm quyền lực điều tiết kinh tế xã hội, duy trì sự phối hợp giữa các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân, bảo vệ trật tự xã hội, nhà nước sẽ dùng mọi công cụ trong đó có Luật phá sản để khắc phục tình trạng lộn xộn có thể phát sinh bằng việc giải quyết một cách thoả đáng mối quan hệ giữa chủ nợ - con nợ, giữa các chủ nợ với nhau và với những người có lợi ích liên quan hạn chế đến mức tối đa những mâu thuẫn có thể nẩy sinh.
Nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương xã hội tránh những mâu thuẫn đáng tiếc có thể xẩy ra như đâm thuê chém mướn để tranh chấp tài sản. Luật phá sản còn đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế và loại trừ các hiện tượng ví phạm đến nhân thân và tài sản của con nợ. Điều này đã được ghi nhận trong lời nói đầu của Luật phá sản doanh nghiệp Việt nam "Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và những người có liên quan khác xác định trách nhiệm của doanh nghiệp mắc nợ khi giải quyết phá sản, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu qua để dam bảo ki cương xã hội. * Về mat pháp lý: Luật phá sản doanh nghiệp ra đời đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, thiết lập hành lang pháp lý chung; tạo ra một mặt bằng pháp lý thong nhất cho việc giải quyết hậu quả của phá sản; đồng thời Luật phá san cũng là một công cụ quan trọng và hữu hiệu để các doanh nghiệp và các chủ thể có liên quan bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.