MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ sau Chiến tranh lạnh, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trở nên năng động và ngày càng thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Khu vực không những có sự hiện diện về mặt địa lý và gia tăng ảnh hưởng của các cường quốc (như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ), các quốc gia tầm trung (như Australia, Hàn Quốc,.) và tổ chức khu vực khá thành công và năng động như ASEAN, mà còn chứng kiến sự thay đổi đáng kể trong cán cân so sánh lực lượng. Liên Xô tan rã, trật tự thế giới hai cực cũng không còn, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới và ở châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ muốn xây dựng một trật tự khu vực do Mỹ lãnh đạo.
Tuy nhiên, vị trí số 1 khu vực đó của Mỹ ngày càng bị thách thức bởi sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, cả về sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc, ASEAN, một mặt, không ngừng phát triển cả về lượng lẫn chất và tăng cường đoàn kết nội khối, mặt khác, giữ vị trí cân bằng tương đối trong quan hệ với các nước lớn và vươn lên, đóng vai trò “trung tâm” trong nhiều cơ chế hợp tác đa phương về an ninh - chính trị và kinh tế trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Về mặt lý luận, nghiên cứu sự điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh sẽ giúp giải đáp những câu hỏi: Liệu ASEAN với vai trò là tổ chức khu vực gồm 10 quốc gia vừa và nhỏ (hợp tác khá “lỏng lẻo”, lại không có lãnh đạo nhóm) có sự chủ động nào không hay luôn ở thế bị động trong quan hệ với siêu cường duy nhất trên thế giới - Mỹ? Nếu có thì ASEAN đã chủ động điều chỉnh quan hệ đối ngoại với Mỹ như thế nào? Trong mối quan hệ giữa nước nhỏ và nước lớn, nước lớn thường giữ vai trò chủ động hơn và chi phối quan hệ nhiều hơn, trong khi đó, nước nhỏ thường bị động hơn và đôi khi bị ép nhiều hơn. “Sự vượt trội về tầm vóc của một nước thường đi cùng với tâm lý 2 và hành vi nước lớn của nước đó so với các nước khác”.
Nước lớn thường có tâm lý “đại quốc” và do vậy, có hành vi coi thường, chèn ép “tiểu quốc” [67]. Trong trường hợp này, tập hợp của các quốc gia vừa và nhỏ, tuy có những thời điểm và trong một số vấn đề, bị chia rẽ, nhưng nhìn chung, đã có những điều chỉnh hợp lý và ứng xử tương đối khôn khéo với siêu cường, góp phần đạt được những mục tiêu trong quan hệ với Mỹ nói riêng và mục tiêu chung của ASEAN. Sự lớn mạnh của ASEAN, việc tăng dần tính chủ động, tích cực của ASEAN và bối cảnh thế giới thay đổi sau Chiến tranh lạnh đã khiến cho tính chất của mối quan hệ ASEAN - Mỹ biến chuyển rõ rệt. Trong những năm đầu sau khi thành lập, năm nước thành viên ASEAN là những nước nhỏ, mới giành độc lập nên phải dựa vào sự viện trợ, đầu tư của Mỹ về mặt kinh tế và ô bảo hộ về mặt an ninh, đặc biệt, đối với các nước đồng minh truyền thống của Mỹ, sự lệ thuộc này càng cao hơn.
Sang thập kỷ 80 của thế kỷ XX, ASEAN giảm dần sự phụ thuộc vào Mỹ. Từ sau Chiến tranh lạnh, tính độc lập, tự chủ trong các quan hệ đối nội và đối ngoại của ASEAN ngày càng tăng lên. ASEAN có sự chủ động nhất định trong quan hệ với Mỹ. Hiện nay, đa số các nước thành viên ASEAN đều muốn đẩy mạnh hợp tác với Mỹ cả về mặt song phương và đa phương.
ASEAN đã chủ động lôi kéo Mỹ vào các cơ chế hợp tác đa phương trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ASEAN đóng vai trò người cầm lái. Trong bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang vận động để hình thành một trật tự khu vực mới, phù hợp hơn với tương quan so sánh lực lượng và sự cạnh tranh Mỹ - Trung trên các lĩnh vực, việc nghiên cứu những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh là cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong quá trình đề xuất những khuyến nghị chính sách trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc và ASEAN. Việt Nam là một trong những thành viên chủ chốt của ASEAN, đã có nhiều sáng kiến và đóng góp trong việc tăng cường hợp tác và đoàn kết nội khối, cũng như trong các quan hệ đối ngoại 3 song phương và đa phương của ASEAN. Tuy nhiên, trong cuộc chạy đua Mỹ - Trung mở rộng ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam sẽ dễ trở thành đối tượng bị lôi kéo.
Trung Quốc đang thúc đẩy chiến lược “Hướng Nam” nhằm vươn ra biển Đông, mà Việt Nam là cửa ngõ quan trọng. Trong khi đó, Mỹ không muốn Việt Nam rơi vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, hơn nữa, tìm cách có được sự hiện diện quân sự ở đây để hoàn thiện tuyến bao vây Trung Quốc, trải dài từ Nhật Bản, Hàn Quốc, xuống Đông Nam Á. Nếu nghiên cứu và học hỏi được những ứng xử khôn khéo của ASEAN trong quan hệ với các nước lớn, Việt Nam sẽ không những không bị rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan” trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, mà còn tận dụng được “cơ hội” này để phát triển quan hệ hơn nữa với Mỹ, ASEAN và Trung Quốc. Với những ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh” để viết luận án Tiến sỹ, chuyên ngành Quan hệ Quốc tế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích, làm rõ những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay. Để đạt được mục tiêu này, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm: (i) Làm sáng tỏ những nội dung ASEAN đã điều chỉnh trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh; (ii) ASEAN đã triển khai trên thực tế những điều chỉnh này như thế nào; (iii) Tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới việc ASEAN có những điều chỉnh đó và (iv) Đánh giá tác động của việc thay đổi này đến mối quan hệ ASEAN - Mỹ, đến ASEAN, đến Mỹ và rộng hơn là quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là phản ứng của các nước lớn khác trong khu vực. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự điều chỉnh quan hệ đối ngoại của ASEAN với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh. 4 ASEAN chưa có chính sách đối ngoại chung, nhưng có quan hệ đối ngoại (external relations) với các đối tác đối thoại và các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế như các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế và tổ chức khu vực.
Dựa trên hai nguyên tắc cơ bản của ASEAN là đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, các quốc gia thành viên ASEAN có sự phối hợp đối ngoại, tạo ra những định hướng đối ngoại, thể hiện rõ nhất qua những Thông cáo chung của các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) và Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (ASEAN Summit) hàng năm. Trong phạm vi luận án, khi nghiên cứu những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ qua từng giai đoạn, tác giả sẽ chỉ nghiên cứu ASEAN với tư cách là một thực thể (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hoặc Cộng đồng ASEAN từ tháng 12/2015). Song, khi triển khai những điều chỉnh này trên thực tế và xem xét những tác động của việc điều chỉnh đó, tác giả sẽ nghiên cứu cả trên bình diện song phương (các mối quan hệ của những nước thành viên ASEAN với Mỹ) và đa phương (quan hệ ASEAN - Mỹ). Độc giả sẽ thấy có những lúc là sự kết hợp hiệu quả quan hệ song phương và đa phương (trong giai đoạn từ 2008), nhưng cũng có khi, các quan hệ song phương lại nổi trội hơn (trong giai đoạn từ 1991 - 1999).
Về thời gian nghiên cứu, luận án sẽ tập trung phân tích những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay. Trong 25 năm đó, tác giả lấy hai mốc lớn là năm 1999 và 2008 để chia luận án thành ba giai đoạn chính: từ 1991 - 1999, từ 1999 - 2008 và từ 2008 đến nay. Lý do tác giả lấy mốc năm 1999 là bởi vì ASEAN đã hoàn thành việc phát triển về lượng (mở rộng từ ASEAN-6 thành ASEAN-10) vào năm 1999. Theo đó, những mục tiêu phát triển, cách thức bàn bạc để xử lý vấn đề phát sinh và quan hệ đối ngoại của ASEAN-10 cũng thay đổi so với ASEAN-6 trước kia.
Trong quan hệ với Mỹ, nếu như ASEAN-6 gồm các quốc gia có cùng hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa với Mỹ và muốn tranh thủ Mỹ về kinh tế và an ninh để phát triển, thì ASEAN-10 5 bao gồm cả các nước có hệ tư tưởng và hệ thống chính trị khác, ASEAN-10 tiến hành đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, trong đó, Mỹ vẫn là một trong những ưu tiên và Mỹ là một đối trọng trong quan hệ của ASEAN với các nước lớn khác. Năm 2008 đánh dấu mốc ASEAN thực sự thay đổi về chất. Sau khi 10 quốc gia thành viên ASEAN ký kết Hiến chương ASEAN năm 2007, sang năm 2008, Hiến chương ASEAN được phê chuẩn và chính thức có hiệu lực. Hiến chương trao cho ASEAN tư cách pháp nhân, thể hiện rõ tình đoàn kết và quyết tâm hướng tới xây dựng một Cộng đồng chung, do đó, thay đổi địa vị pháp lý của tổ chức ASEAN trong quan hệ với các nước thành viên và trong quan hệ của ASEAN với các đối tác khác.
Đồng thời, năm 2008 cũng bắt đầu chứng kiến sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương dưới thời chính quyền của Tổng thống Barack Obama, theo đó, chính sách của Mỹ với Đông Nam Á cũng thay đổi đáng kể theo chiều hướng tích cực.