Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế mang tên "Những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh", mã số 62 31 02 06, do nghiên cứu sinh Nguyễn Phú Tân Hương thực hiện tại Học viện Ngoại giao dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Sơn Hải và PGS. Hoàng Khắc Nam (bảo vệ năm 2016).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng sau Chiến tranh lạnh, khu vực châu Á - Thái Bình Dương chứng kiến sự chuyển dịch trong cán cân so sánh lực lượng với vị thế siêu cường duy nhất của Mỹ cùng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực nước lớn, quan hệ quốc tế thường ghi nhận các quốc gia lớn giữ thế chủ động, trong khi các quốc gia vừa và nhỏ chịu sức ép hoặc ở thế bị động. Tuy nhiên, ASEAN – một tập hợp gồm 10 quốc gia vừa và nhỏ với cơ chế liên kết liên chính phủ – đã thể hiện sự chủ động điều chỉnh quan hệ đối ngoại với Mỹ nhằm tối ưu hóa lợi ích và giữ vững vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực. Khoảng trống nghiên cứu nằm ở việc hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận quan hệ Mỹ - ASEAN từ góc độ đơn phương của Mỹ hoặc nghiên cứu quan hệ song phương riêng lẻ, thiếu vắng một công trình phân tích có hệ thống về sự chủ động điều chỉnh từ phía ASEAN.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích, làm rõ những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2016. Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- (i) Làm sáng tỏ những nội dung ASEAN đã điều chỉnh trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh;
- (ii) Làm rõ cách thức ASEAN triển khai trên thực tế những điều chỉnh này;
- (iii) Tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới việc ASEAN thực hiện các điều chỉnh đó;
- (iv) Đánh giá tác động của sự thay đổi này đối với mối quan hệ ASEAN - Mỹ, đối với nội bộ ASEAN, đối với Mỹ và cấu trúc quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Đối tượng nghiên cứu là sự điều chỉnh quan hệ đối ngoại của ASEAN với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh. Luận án xem xét ASEAN với tư cách là một thực thể khu vực (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Cộng đồng ASEAN từ tháng 12/2015), đồng thời phân tích sự kết hợp giữa bình diện song phương (các nước thành viên với Mỹ) và đa phương (ASEAN - Mỹ).
Phạm vi không gian nghiên cứu đặt trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm toàn bộ Đông Á, bờ Tây Thái Bình Dương, vùng đảo Thái Bình Dương và châu Đại Dương, nơi đan xen lợi ích của các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ. Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài 25 năm (1991 - 2016), được phân kỳ thành 3 giai đoạn chính dựa trên hai mốc lịch sử:
- Giai đoạn 1991 - 1999: Mốc 1999 đánh dấu việc hoàn thành mở rộng từ ASEAN-6 thành ASEAN-10, thay đổi về lượng dẫn đến sự đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.
- Giai đoạn 1999 - 2008: Mốc 2008 đánh dấu Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực, mang lại tư cách pháp nhân và bước biến chuyển về chất cho Hiệp hội.
- Giai đoạn 2008 đến 2016: Thời kỳ triển khai Hiến chương ASEAN, hướng tới thành lập Cộng đồng ASEAN (12/2015), trùng với việc chính quyền Tổng thống Barack Obama thực thi chiến lược tái cân bằng sang khu vực.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm tiếp cận chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ ASEAN - Mỹ trong và sau Chiến tranh lạnh.
- Michael Leifer trong tác phẩm Michael Leifer: Selected Works on Southeast Asia (do Chin Kin Wah và Leo Suryadinata biên soạn, 2005) đã phân tích quan hệ song phương của 5 nước sáng lập ASEAN với Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam.
- GS. Nguyễn Thiết Sơn với cuốn sách Quan hệ Hoa Kỳ - ASEAN 2001-2020 (2012) phân tích thực trạng và triển vọng quan hệ hai bên nhưng tiếp cận nhiều hơn từ góc độ của Mỹ, không chia giai đoạn cụ thể và chưa làm rõ tính toán của ASEAN.
- PGS.TS Lê Văn Anh với công trình Quan hệ Mỹ - ASEAN (1967 – 1997): Lịch sử và triển vọng (2009) đã phân kỳ lịch sử chi tiết từ 1967 đến 1997 nhưng dừng lại ở thời điểm năm 1997.
- Tác giả Trần Lê Minh Trang (2001) với đề tài Quan hệ ASEAN - Mỹ từ những năm đầu thập niên 90 đến nay phân chia giai đoạn 1991 - 1995 và 1995 - 2001, tập trung vào các lĩnh vực hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế mà chưa phân tích sâu lợi ích của ASEAN.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Thị Lan Hương (2010) mang tên Quan hệ Mỹ - ASEAN từ 2000 đến nay tiếp cận theo nhiệm kỳ tổng thống Mỹ (George W. Bush và Barack Obama) và nghiên cứu chính sách từng nước riêng lẻ thay vì xem xét ASEAN như một thực thể.
- Các bài tổng thuật ngắn gọn của Trung tâm Nghiên cứu Đông - Tây như Overview of ASEAN - US relations (2013) và US - ASEAN.
Nhóm thứ hai: Các nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đông Nam Á và ASEAN.
- TS. Lê Khương Thùy trong cuốn Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN: Trong và sau Chiến tranh lạnh (2003) phân tích chính sách của Mỹ giai đoạn 1967 - 1995.
- Các bài báo chuyên ngành của Phạm Cao Cường (2005) về chính sách của Mỹ sau sự kiện 11/9; Lê Đình Tĩnh và Bùi Quốc Khánh (2013) về chiến lược tái cân bằng; John West (2014) và Bonnie S. Glaser về chiến lược xoay trục của chính quyền Obama đối với Đông Nam Á. Các công trình này chủ yếu nhìn nhận một chiều từ phía Washington.
Nhóm thứ ba: Các nghiên cứu tiếp cận từ góc độ phản ứng và vai trò của ASEAN.
- PGS. Trần Khánh (chủ biên, 2014) trong Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở Đông Nam Á ba thập niên đầu sau Chiến tranh lạnh phân tích phản ứng chiến lược của ASEAN trước sự cạnh tranh của hai nước lớn.
- Peter A. Petri và Michael G. Plummer (2014) trong ASEAN centrality and the ASEAN - US economic relationship phân tích vai trò trung tâm của ASEAN thông qua các liên kết kinh tế như TPP, RCEP và các FTA.
- GS. Amitav Acharya (2011) với bài viết ASEAN’s Dilemma: Courting Washington without Hurting Beijing chỉ ra thế tiến thoái lưỡng nan của ASEAN trong việc gắn kết với Mỹ nhưng tránh làm căng thẳng với Trung Quốc.
- Các nghiên cứu khác của Evelyn Goh (2013), Michael Leifer (1989), Rizal Sukma (2010), Nguyễn Thu Mỹ (2010), luận văn của Hoàng Đình Nhàn (2009), và bài viết của GS. Satu Limaye trên tạp chí The Diplomat (2016) bàn về việc ASEAN chủ động tối ưu hóa lợi ích và thu hút các cường quốc tham gia vào cấu trúc do ASEAN dẫn dắt (ARF, EAS, ADMM+).
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên biệt về những điều chỉnh có tính chủ động của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, làm rõ cơ sở lý luận, nội dung, phương thức triển khai, các nhân tố chi phối và dự báo xu hướng đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng nền tảng lý luận Mác - Lênin, phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận.
Về khung lý thuyết chuyên ngành, tác giả sử dụng lý luận về chính sách đối ngoại và phân tích chính sách đối ngoại (Foreign Policy Analysis). Luận án tổng hợp các định nghĩa của Học viện Ngoại giao, Lion Noel, và định nghĩa mở rộng của Christopher Hill coi chính sách đối ngoại là chuỗi các hành động nhằm tối đa hóa lợi ích của một thực thể chính trị đơn nhất hoặc quốc gia. Luận án vận dụng các biến số phân tích chính sách đối ngoại gồm: môi trường quốc tế, môi trường trong nước, nội dung chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ và các công cụ thực hiện (ngoại giao, kinh tế, quân sự).
Đối với trường hợp ASEAN, do mô hình liên kết mang tính liên chính phủ và chưa có chính sách đối ngoại chung, tác giả tiếp cận thông qua khái niệm "sự phối hợp đối ngoại" (external relations coordination). Lập trường chung và định hướng đối ngoại của ASEAN được hình thành dựa trên nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, thể hiện qua các Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) và Hội nghị Cấp cao ASEAN (ASEAN Summit).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể trong luận án là phương pháp định tính trong nghiên cứu quan hệ quốc tế:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Tái hiện tiến trình vận động của mối quan hệ ASEAN - Mỹ qua các giai đoạn từ năm 1967 đến năm 2016.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các nhân tố tác động từ môi trường quốc tế, khu vực và nội bộ ASEAN.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh quan hệ ASEAN - Mỹ giữa giai đoạn Chiến tranh lạnh và sau Chiến tranh lạnh, đối chiếu các giai đoạn 1991 - 1999, 1999 - 2008 và từ 2008 đến 2016; so sánh giữa bình diện song phương và đa phương.
- Phương pháp thu thập dữ liệu và phỏng vấn: Sử dụng văn bản chính thức của ASEAN, tài liệu giải mật và tuyên bố chính sách của Mỹ, tham gia các hội thảo quốc tế và phỏng vấn chuyên gia, chính trị gia liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh
Chương 1 thiết lập các căn cứ lý luận và thực tiễn chi phối sự điều chỉnh đối ngoại của ASEAN với Mỹ:
Về cơ sở lý luận: Luận án xác định mối quan hệ biện chứng giữa chính sách đối nội và chính sách đối ngoại, trong đó chính sách đối ngoại chịu sự quy định của các nhu cầu phát triển trong nước và lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối với ASEAN, sự phối hợp đối ngoại dựa trên lợi ích song trùng giữa các nước thành viên nhằm duy trì môi trường hòa bình, bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế.
Về cơ sở thực tiễn giai đoạn 1967 - 1991: Luận án phân tích tiến trình lịch sử qua hai giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn 1967 - 1977: ASEAN gồm 5 nước sáng lập phụ thuộc nhiều vào viện trợ và sự bảo hộ an ninh của Mỹ để đối phó với tác động của cuộc chiến tranh tại Việt Nam và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Mỹ chưa thiết lập quan hệ chính thức với cả khối mà duy trì quan hệ song phương với từng nước (Philippines và Thái Lan là đồng minh có hiệp ước quân sự; Singapore là căn cứ hậu cần; Malaysia hỗ trợ đào tạo tình báo; Indonesia dưới thời chính quyền Soeharto duy trì lập trường thân phương Tây).
- Giai đoạn 1977 - 1991: Năm 1977, cuộc đối thoại đa phương đầu tiên ASEAN - Mỹ diễn ra tại Manila. Sau thất bại tại Việt Nam, Mỹ giảm hiện diện quân sự trực tiếp nhưng tái tăng cường can dự dưới thời Tổng thống Ronald Reagan thông qua chính sách 10 điểm, ủng hộ lập trường của ASEAN về vấn đề Campuchia và cung cấp viện trợ quân sự, kinh tế. ASEAN bắt đầu giảm dần mức độ lệ thuộc, tìm kiếm sự tự chủ lớn hơn qua Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC 1976).
| Chỉ số / Mốc thời gian |
Giai đoạn 1967 - 1977 |
Giai đoạn 1977 - 1991 |
| Hình thức quan hệ chủ đạo |
Quan hệ song phương Mỹ với từng nước thành viên |
Bắt đầu đối thoại đa phương (9/1977) kết hợp quan hệ song phương |
| Viện trợ kinh tế / Đầu tư của Mỹ |
Viện trợ giai đoạn 1968 - 1970 đạt khoảng 2 tỷ USD; FDI Mỹ năm 1975 chiếm 20% tổng FDI vào ASEAN |
Viện trợ kinh tế tiếp tục tăng; thành lập Ủy ban Thương mại ASEAN - Mỹ (1979) |
| Kim ngạch thương mại hai chiều |
1973: 4,5 tỷ USD; 1976: 9,5 tỷ USD; 1977: 10,9 tỷ USD |
Những năm 1980: ASEAN trở thành bạn hàng lớn thứ 5 của Mỹ |
| Ngân sách quân sự của ASEAN |
Mức độ chi tiêu quốc phòng thấp, dựa vào ô bảo trợ an ninh |
Năm 1980: Đạt 5,5 tỷ USD (tăng 45% so với năm 1979, gấp 2 lần năm 1975) |
Về bối cảnh khu vực sau Chiến tranh lạnh: Sự tan rã của trật tự hai cực đưa Mỹ trở thành siêu cường duy nhất, đồng thời mở ra xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa (sự phát triển của EU, NAFTA, APEC). Khu vực châu Á - Thái Bình Dương vươn lên thành trung tâm kinh tế năng động với 54% GDP toàn cầu và 40% thương mại quốc tế. Cán cân lực lượng thay đổi sâu sắc với sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc cả về kinh tế và quân sự, thúc đẩy yêu cầu cân bằng lực lượng của các nước vừa và nhỏ.
Về toan tính chiến lược của Mỹ và ASEAN:
- Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama (với chiến lược "Quay trở lại châu Á" / Tái cân bằng) coi trọng vị trí địa - chiến lược của Đông Nam Á, bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch qua Biển Đông và duy trì vai trò lãnh đạo khu vực.
- ASEAN cần Mỹ để giữ cân bằng quyền lực với Trung Quốc, duy trì thị trường xuất khẩu, thu hút vốn công nghệ, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với quá trình mở rộng khối và nâng cao vị thế thể chế.
Chương 2: ASEAN điều chỉnh quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh
Chương 2 làm sáng tỏ các nội dung và phương thức điều chỉnh thực tế của ASEAN đối với Mỹ qua 3 giai đoạn:
Tiến trình điều chỉnh quan hệ ASEAN - Mỹ (1991 - 2016)
Độc lập, tự chủ Đẩy mạnh hợp tác Hợp tác toàn diện, lôi kéo
hơn; kết nạp các trên một số lĩnh Mỹ dính líu sâu; Đối tác
thành viên mới vực trọng điểm chiến lược (2012); Thượng đỉnh
(ASEAN-6 -> 10) thường niên ASEAN - Mỹ
Điều chỉnh về lập trường chung:
- ASEAN chủ động tìm kiếm sự công nhận và ủng hộ của Mỹ đối với quá trình mở rộng thành viên (kết nạp Việt Nam năm 1995, Lào và Myanmar năm 1997, Campuchia năm 1999) và lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột (APSC, AEC, ASCC).
- Đẩy mạnh hợp tác kinh tế - thương mại và an ninh phi truyền thống (chống khủng bố sau sự kiện 11/9/2001, an ninh mạng, ứng phó biến đổi khí hậu, an toàn hàng hải).
- Khẳng định và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực đang định hình.
Điều chỉnh về nội dung và phương thức triển khai qua các thời kỳ:
- Giai đoạn 1991 - 1999: ASEAN thể hiện tính "độc lập, tự chủ" cao hơn trong quan hệ với Mỹ. Khối kiên quyết mở rộng thành viên bất chấp việc Mỹ phản đối kết nạp Myanmar do vấn đề dân chủ và nhân quyền. ASEAN thành lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) năm 1994 nhằm lôi kéo Mỹ và các nước lớn tham gia đối thoại đa phương về an ninh.
- Giai đoạn 1999 - 2008: ASEAN thúc đẩy hợp tác chuyên biệt với Mỹ trong các lĩnh vực kinh tế và phòng chống khủng bố quốc tế, xử lý các tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997 - 1998) và mở rộng quan hệ đối ngoại thông qua các khuôn khổ ASEAN+1, ASEAN+3 và Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS thành lập năm 2005).
- Giai đoạn từ 2008 đến 2016: ASEAN chuyển sang hợp tác toàn diện và chủ động lôi kéo sự can dự ("dính líu") của Mỹ vào khu vực. Mỹ tham gia ký kết Hiệp ước TAC năm 2009, cử Đại sứ chuyên trách tại Ban Thư ký ASEAN, tham gia EAS từ năm 2011 và cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+ từ năm 2010). Năm 2012, tại cuộc gặp cấp cao lần thứ 4, hai bên nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược và thể chế hóa Hội nghị Thượng đỉnh thường niên ASEAN - Mỹ.
Phương thức triển khai song phương và đa phương:
- Về mặt song phương, các nước thành viên ASEAN phân hóa thành 3 nhóm trong quan hệ với Mỹ:
- Nhóm đồng minh truyền thống (Philippines, Thái Lan) và đối tác an ninh chủ chốt (Singapore);
- Nhóm các quốc gia cải thiện và mở rộng quan hệ đối tác toàn diện (Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei);
- Nhóm các quốc gia có quan hệ ở mức độ thận trọng hoặc nghiêng nhiều hơn về phía Trung Quốc (Campuchia, Lào, Myanmar).
- Về mặt đa phương, ASEAN sử dụng các cơ chế do khối dẫn dắt làm nền tảng định hình luật chơi và ràng buộc trách nhiệm của các nước lớn.
Chương 3: Đánh giá và dự báo triển vọng ASEAN điều chỉnh quan hệ với Mỹ đến năm 2020
Chương 3 tổng kết các kết quả đạt được, phân tích thách thức và xây dựng kịch bản dự báo:
Đánh giá tổng quan: Sự điều chỉnh của ASEAN theo hướng độc lập, tự chủ, chủ động can dự và lôi kéo Mỹ là phù hợp với bối cảnh quốc tế. ASEAN đã thành công trong việc giữ vững độc lập, mở rộng không gian phát triển kinh tế, tranh thủ được các nguồn lực kỹ thuật và duy trì cân bằng lực lượng tương đối giữa các cường quốc.
Cơ hội và thách thức:
- Cơ hội: Tận dụng cam kết tái cân bằng của Mỹ để bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, mở rộng thị trường thương mại và đầu tư, thúc đẩy các thỏa thuận kinh tế thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
- Thách thức: Nguy cơ chia rẽ nội khối khi các nước lớn gia tăng cạnh tranh chiến lược; áp lực từ Mỹ về các tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền; nguy cơ bị biến thành sân chơi đối đầu quyền lực nếu ASEAN đánh mất vai trò trung tâm.
Ba kịch bản dự báo triển vọng quan hệ đến năm 2020:
- Kịch bản 1: ASEAN ngả theo Mỹ để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Kịch bản này khó xảy ra do tính đa dạng về chế độ chính trị, lợi ích kinh tế phụ thuộc sâu vào Trung Quốc của nhiều nước thành viên và nguyên tắc đồng thuận của khối.
- Kịch bản 2: ASEAN giảm gắn kết với Mỹ và nghiêng nhiều hơn về phía Trung Quốc. Kịch bản này cũng ít có khả năng trở thành hiện thực do các nước thành viên đều lo ngại sự chi phối độc tôn của Trung Quốc và các tranh chấp lãnh thổ phức tạp trên Biển Đông.
- Kịch bản 3 (Khả thi nhất): ASEAN tiếp tục duy trì vị trí cân bằng tương đối trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng thời phát huy vai trò trung tâm trong kiến trúc an ninh - kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang định hình.
Khuyến nghị chính sách cho Việt Nam:
- Trong quan hệ với các nước lớn nói chung: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; kiên trì nguyên tắc giữ cân bằng động, không liên minh với nước này để chống nước khác.
- Trong quan hệ với Mỹ: Đẩy mạnh làm sâu sắc khuôn khổ quan hệ Đối tác Toàn diện (xác lập năm 2013), tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, khoa học công nghệ, khắc phục hậu quả chiến tranh và an ninh hàng hải.
- Trong quan hệ với ASEAN: Chủ động đóng góp vào việc củng cố đoàn kết nội khối, nâng cao hiệu quả thực thi Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng ASEAN; phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy lập trường chung của khối trong vấn đề Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế (DOC, tiến tới COC).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên ở Việt Nam áp dụng khung lý luận phân tích chính sách đối ngoại vào thực thể liên chính phủ ASEAN trong mối quan hệ với một siêu cường toàn cầu (Mỹ).
- Luận án chứng minh trên phương diện học thuật rằng các quốc gia vừa và nhỏ khi tập hợp trong một tổ chức khu vực không hoàn toàn ở thế thụ động trước nước lớn, mà có thể chủ động điều chỉnh chiến lược đối ngoại để bảo vệ chủ quyền và tối đa hóa lợi ích chung.
Về mặt thực tiễn:
- Hệ thống hóa toàn diện quá trình điều chỉnh quan hệ của ASEAN đối với Mỹ qua 25 năm sau Chiến tranh lạnh (1991 - 2016), phân kỳ khoa học theo 3 giai đoạn gắn liền với các bước chuyển về lượng và chất của Hiệp hội.
- Luận giải cơ chế kết hợp giữa kênh đối ngoại song phương của các nước thành viên và kênh đa phương của ASEAN.
- Xây dựng 3 kịch bản vận động của quan hệ ASEAN - Mỹ đến năm 2020 và cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và ASEAN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do ASEAN là một tổ chức khu vực mang tính liên chính phủ gồm 10 quốc gia có chế độ chính trị, mức độ phát triển kinh tế và lợi ích an ninh khác nhau, việc xác định một lập trường chung đôi khi phản ánh sự thỏa hiệp giữa các thành viên. Luận án nghiên cứu các điều chỉnh chủ yếu qua các văn kiện chính thức của khối và chính sách đối ngoại công khai, chưa bao quát hết mọi biến động nội bộ phức tạp trong chính trường của từng quốc gia thành viên.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án chỉ ra yêu cầu tiếp tục theo dõi, kiểm chứng sự vận động của 3 kịch bản dự báo quan hệ ASEAN - Mỹ sau năm 2016, đặc biệt khi Cộng đồng ASEAN chính thức đi vào vận hành từ cuối năm 2015 và sự thay đổi nhân sự lãnh đạo chính quyền tại Mỹ sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2016.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Cán bộ nghiên cứu và hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu và luận cứ thực tiễn cho các cơ quan ngoại giao, an ninh, quốc phòng trong việc theo dõi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại Đông Nam Á và xây dựng đối sách đối ngoại của Việt Nam.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Làm tài liệu tham khảo chuyên khảo trong giảng dạy và học tập các chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, Ngoại giao, Quốc tế học và Nghiên cứu Khu vực học Đông Nam Á (ASEAN học).
- Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống dữ liệu lịch sử quan hệ giai đoạn 1967 - 1991, phân tích cơ chế phối hợp đối ngoại của ASEAN trong việc thiết lập các thể chế đa phương (ARF, EAS, ADMM+), và hệ thống các khuyến nghị chính sách đối ngoại cho Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn hai mốc năm 1999 và năm 2008 để phân kỳ các giai đoạn nghiên cứu?
Năm 1999 đánh dấu việc ASEAN hoàn tất quá trình phát triển về lượng khi kết nạp thành viên thứ 10 (Campuchia), chuyển đổi từ ASEAN-6 thành ASEAN-10 với hệ tư tưởng và thể chế đa dạng, định hình đường lối đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Năm 2008 đánh dấu bước chuyển về chất khi Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực, mang lại tư cách pháp nhân cho tổ chức, mở đường cho việc xây dựng Cộng đồng ASEAN và trùng hợp với sự điều chỉnh chiến lược của chính quyền Tổng thống Barack Obama đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
2. Phương thức triển khai quan hệ của ASEAN đối với Mỹ có sự chuyển biến như thế nào qua 3 giai đoạn từ sau Chiến tranh lạnh?
Giai đoạn 1991 - 1999, ASEAN ưu tiên giữ tính độc lập, tự chủ, thúc đẩy mở rộng thành viên và khởi xướng Diễn đàn ARF. Giai đoạn 1999 - 2008, ASEAN đẩy mạnh hợp tác chọn lọc với Mỹ trên một số lĩnh vực then chốt như kinh tế và chống khủng bố. Giai đoạn 2008 - 2016, ASEAN chuyển sang hợp tác toàn diện, chủ động lôi kéo sự can dự sâu rộng của Mỹ vào các cơ chế khu vực (TAC, EAS, ADMM+), tiến tới nâng cấp đối tác chiến lược và thiết lập Thượng đỉnh thường niên.
3. Luận án phân loại các nước thành viên ASEAN trong quan hệ song phương với Mỹ như thế nào?
Luận án phân chia 10 nước thành viên thành 3 nhóm: (i) Nhóm đồng minh truyền thống và đối tác an ninh chủ chốt (Philippines, Thái Lan, Singapore); (ii) Nhóm các quốc gia tăng cường và mở rộng quan hệ đối tác toàn diện (Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei); (iii) Nhóm các quốc gia có mức độ hợp tác hạn chế hoặc chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ Trung Quốc (Campuchia, Lào, Myanmar).
4. Kịch bản nào được luận án đánh giá là khả thi nhất đối với quan hệ ASEAN - Mỹ đến năm 2020?
Kịch bản 3 là kịch bản khả thi nhất: ASEAN tiếp tục duy trì vị trí cân bằng tương đối trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, không ngả hẳn về một bên, tận dụng sự hiện diện của các cường quốc để củng cố vai trò trung tâm của Hiệp hội trong cấu trúc khu vực.
5. Luận án đưa ra những khuyến nghị chính sách trọng tâm nào đối với Việt Nam trong quan hệ với ASEAN và Mỹ?
Đối với ASEAN, Việt Nam cần chủ động thúc đẩy đoàn kết nội khối, hoàn thiện thể chế Cộng đồng và giữ vững nguyên tắc đồng thuận trong vấn đề Biển Đông. Đối với Mỹ, Việt Nam cần tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác Toàn diện trên các trụ cột kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục và an ninh hàng hải, đồng thời kiên trì đường lối độc lập, tự chủ và không tham gia liên minh quân sự.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Phú Tân Hương đã phân tích một cách có hệ thống tiến trình và bản chất những điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ giai đoạn 1991 - 2016. Bằng phương pháp tiếp cận chính sách đối ngoại và phân tích định tính, công trình làm sáng tỏ tính chủ động của tập hợp các quốc gia vừa và nhỏ trong việc ứng phó với sự thay đổi của môi trường địa - chính trị quốc tế. Những kết quả nghiên cứu, đánh giá kịch bản và đề xuất chính sách trong luận án mang lại giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu quan hệ quốc tế cũng như việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.