phần mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về điều chỉnh chính sách thƣơng mại quốc tế trong hội nhập WTO. Chƣơng 2: Thực trạng điều chỉnh chính sách thƣơng mại quốc tế của Việt Nam trong hội nhập WTO. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách thƣơng mại quốc tế của Việt Nam trong hội nhập WTO. 10 11 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG HỘI NHẬP WTO 1.
KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG HỘI NHẬP WTO 1. Khái niệm, vai trò của chính sách thƣơng mại quốc tế Chính sách thƣơng mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nƣớc sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thƣơng mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với định hƣớng, chiến lƣợc, mục đích đã định trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó. Mặc dù chính sách thƣơng mại quốc tế nói chung đƣa lại những lợi ích to lớn nhƣng với nhiều lý do khác nhau, mỗi quốc gia có chủ quyền đều có chính sách thƣơng mại quốc tế riêng thể hiện ý chí và mục tiêu của Nhà nƣớc đó trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động thƣơng mại quốc tế có liên quan đến nền kinh tế của quốc gia. Do sự phát triển không đều giữa các quốc gia nên khả năng và điều kiện tham gia vào thƣơng mại quốc tế của mỗi nƣớc là không giống nhau.
Trong khi đó yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế và xã hội có những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có sự hỗ trợ từ phía chính sách thƣơng mại quốc tế. Môi trƣờng kinh tế quốc tế còn chịu sự chi phối và tác động của nhiều mối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế, cho nên chính sách thƣơng mại quốc tế của mỗi quốc gia cũng phải đáp ứng cho nhiều mục tiêu khác nhau. Chính sách thƣơng mại quốc tế là một bộ phận của chính sách kinh tế xã hội của nhà nƣớc. Nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.
Nó tác động mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu 12 kinh tế của đất nƣớc đến quy mô và phƣơng thức tham gia của nền kinh tế mỗi nƣớc vào phân công lao động quốc tế và thƣơng mại quốc tế. Chính sách thƣơng mại quốc tế có vai trò to lớn trong việc khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nƣớc, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ƣu, đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Một chính sách thƣơng mại quốc tế đƣợc đánh giá là tốt khi tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nƣớc mở rộng thị trƣờng ra nƣớc ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và thƣơng mại quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nƣớc; mặt khác có thể bảo vệ đƣợc thị trƣờng nội địa đứng vững trƣớc sự xâm nhập ồ ạt của hàng hoá nƣớc ngoài với chất lƣợng ngày càng cao, mẫu mã đẹp và giá cả cạnh tranh. Chính sách thƣơng mại quốc tế có thể tạo nên các tác động tích cực khi có cơ sở khoa học và thực tiễn, tức là nó xuất phát từ bối cảnh khách quan của nền kinh tế thế giới, chú ý đến đặc điểm và trình độ phát triển của nền kinh tế trong nƣớc, tuân theo các quy luật khách quan trong sự vận động của các quan hệ kinh tế quốc tế và thƣờng xuyên đƣợc bổ sung, hoàn chỉnh phù hợp với những thay đổi mau lẹ của thực tiễn.
Mục tiêu của chính sách thƣơng mại quốc tế của mỗi quốc gia có thể thay đổi qua mỗi thời kỳ nhƣng đều có chức năng chung là điều chỉnh các hoạt động thƣơng mại quốc tế theo chiều hƣớng có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Chức năng này thể hiện trên hai mặt: Một là, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nƣớc mở rộng thị trƣờng ra nƣớc ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và thƣơng mại quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nƣớc. Hai là, bảo vệ thị trƣờng nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nƣớc có khả năng đứng vững và vƣơn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng yêu cầu tăng cƣờng lợi ích quốc gia. 13 Trên thực tế, chính sách thƣơng mại quốc tế của mỗi quốc gia là rất khác nhau qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của họ do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên trong từng thời kỳ lịch sử quy định.
Song dù khác nhau nhƣ thế nào chúng đều vận động theo những quy luật chung và chịu sự chi phối của hai xu hƣớng cơ bản: Xu hƣớng tự do hoá thƣơng mại và xu hƣớng bảo hộ thƣơng mại. Hai xu hƣớng này mang tính khách quan và tạo nên cơ sở cho việc hình thành chính sách thƣơng mại quốc tế của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn. Xu hướng bảo hộ mậu dịch Cơ sở khách quan của xu hƣớng này bắt nguồn từ sự phát triển không đều và sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia, do sự chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các công ty trong nƣớc với các công ty nƣớc ngoài, cũng nhƣ do các nguyên nhân lịch sử để lại. Ở buổi đầu hình thành nền thƣơng mại quốc tế, ngƣời ta thƣờng quan tâm đến việc đẩy mạnh xuất khẩu để thu về kim khí quý, trong khi đó lại chủ trƣơng hạn chế nhập khẩu để giảm bớt khả năng di chuyển của kim khí quý ra nƣớc ngoài.
Bên cạnh đó còn có các lý do về chính trị và xã hội cũng đƣa đến yêu cầu bảo hộ mậu dịch. Xu hƣớng bảo hộ mậu dịch xuất hiện ngay khi hình thành và tiếp tục đƣợc củng cố trong quá trình phát triển của nền thƣơng mại quốc tế với công cụ đƣợc sử dụng phổ biến nhất là thuế quan. Bên cạnh đó còn có các công cụ hành chính, các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Ngƣời ta lập luận rằng mục tiêu của bảo hộ mậu dịch là để bảo vệ thị trƣờng nội địa trƣớc sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các luồng hàng hoá từ bên ngoài, cũng tức là bảo vệ lợi ích quốc gia.
Cho đến nay vẫn còn có những lý lẽ khác nhau để biện minh cho chế độ bảo hộ mậu dịch. Một là, bảo vệ ngành công nghiệp “non trẻ”. Theo lý lẽ này, những xí nghiệp non trẻ phải chịu chi phí ban đầu cao và không thể cạnh tranh ngay trong một vài năm đầu với các đối thủ nƣớc ngoài dày dạn kinh nghiệm. Một chính sách tự do thƣơng mại có thể bóp chết các xí nghiệp non trẻ ngay từ khi chúng mới sinh ra.
Một hình thức thuế quan tạm thời đánh vào hàng hoá nhập khẩu sẽ cho phép chúng 14 trƣởng thành cho tới độ chín muồi và đƣợc bảo vệ chống lại sự cạnh tranh gay gắt từ nƣớc ngoài. Hai là, tạo nguồn tài chính công. Theo lý lẽ này, các loại thuế nhập khẩu là cần thiết để đảm bảo nguồn thu cho chính phủ để đáp ứng các chi phí trong việc cung cấp hàng hoá công cộng, để tiến hành trả nợ và giải quyết các khoản chi trả khác. Ba là, khắc phục một phần tình trạng thất nghiệp trong nƣớc.
Theo lý lẽ này, các loại thuế nhập khẩu đánh vào các sản phẩm có thể thay thế nhập khẩu sẽ tạo điều kiện để mở rộng thêm việc sản xuất sản phẩm cùng loại, tạo thêm việc làm cho ngƣời lao động trong nƣớc, vì khi ấy các hãng sẽ có thể trả cho ngƣời lao động mức lƣơng cao hơn. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng thuế nhập khẩu là một loại trợ cấp việc làm, song việc trợ cấp này chỉ diễn ra ở các ngành sản xuất hàng hoá có thể thay thế nhập khẩu. Mặt khác, có nguy cơ các quốc gia khác sẽ có những biện pháp trả đũa và gây nên tình trạng xa rời nguyên tắc tự do buôn bán trong thƣơng mại quốc tế. Bốn là, thực hiện phân phối lại thông qua việc áp dụng chế độ bảo hộ.
Theo lý lẽ này các loại thuế nhập khẩu sẽ làm chuyển dịch một phần thu nhập của ngƣời tiêu dùng giàu có hơn sang cho những ngƣời sản xuất các loại hàng hoá trong nƣớc. Điều đó sẽ có lợi về mặt xã hội, tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng thuế quan nhập khẩu chƣa hẳn đã đáp ứng đƣợc mục tiêu mong muốn. Ví dụ, Nhật Bản và EU đánh thuế nhập khẩu hàng nông sản nhƣng những ngƣời nông dân không hẳn đã nghèo và những ngƣời tiêu dùng nông sản không hẳn đã giàu. Xu hướng tự do hoá thương mại Cơ sở khách quan của xu hƣớng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới với những cấp độ là toàn cầu hoá và khu vực hoá.
Lực lƣợng sản xuất phát triển vƣợt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự phân công lao động quốc tế phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của công ty đa quốc gia đƣợc tăng cƣờng, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế mở” với 15 việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nƣớc. Tự do hoá thƣơng mại đều đƣa lại lợi ích cho mỗi quốc gia, dù trình độ phát triển có khác nhau và nó phù hợp với xu thế phát triển chung của nền văn minh nhân loại. Nội dung của tự do hoá thƣơng mại là Nhà nƣớc áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bƣớc giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ thƣơng mại quốc tế, nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho việc phát triển các hoạt động thƣơng mại quốc tế cả bề rộng lẫn bề sâu. Đƣơng nhiên, tự do hoá thƣơng mại trƣớc hết nhằm vào việc thực hiện chủ trƣơng mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi quốc gia cũng nhƣ đạt tới những điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu.