Tổng quan nghiên cứu

Kể từ cột mốc Đổi mới năm 1986, nền văn học Việt Nam chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của văn xuôi nữ với hàng trăm tác phẩm xuất sắc, tạo nên bước chuyển dịch sâu sắc từ âm hưởng sử thi sang văn học thế sự và đời tư. Tuy nhiên, trong suốt hơn 30 năm qua, phần lớn các công trình phê bình chỉ tiếp cận mảng sáng tác này dưới góc độ thi pháp học, phong cách học hoặc phản ánh luận đơn thuần. Khoảng trống học thuật này đòi hỏi một hướng tiếp cận liên ngành mới mẻ nhằm giải mã bản chất văn hóa và cấu trúc quyền lực xã hội chi phối quá trình sáng tạo văn chương.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam mã số 822 01 21 của tác giả Nguyễn Thúy Hà, bảo vệ năm 2018 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Thiện Khanh, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là bóc tách các cơ chế xã hội kiến tạo nên hình ảnh người phụ nữ, phân tích cách thức các nhà văn nữ định nghĩa lại nữ tính và giải kiến tạo các diễn ngôn phụ quyền truyền thống.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các sáng tác tiêu biểu từ năm 1986 đến năm 2018 của 4 tác giả nữ hàng đầu: Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan và Nguyễn Thị Thu Huệ. Công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp một khung phân tích diễn ngôn chuẩn mực, góp phần định hướng phương pháp luận cho hơn 100 công trình nghiên cứu về giới và văn hóa đương đại, đồng thời nâng cao nhận thức bình đẳng giới trong không gian học thuật cũng như đời sống xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng liên ngành vững chắc, kết hợp chặt chẽ giữa Lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault, O. Rusakova và Lý thuyết phê bình nữ quyền hiện đại của Simone de Beauvoir cùng Betty Friedan. Luận văn vận hành hệ thống 5 khái niệm then chốt nhằm định hình khung phân tích:

  1. Giới (gender): Cấu trúc văn hóa - xã hội được tạo thành từ các thiết chế gia đình, giáo dục, tôn giáo và chính trị, mang tính lịch sử, đa dạng và có thể biến đổi; phân biệt rạch ròi với Giới tính (sex) vốn mang tính sinh học bẩm sinh.
  2. Diễn ngôn (discourse): Ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, được tổ chức theo những quy tắc đặc thù để tạo nghĩa, hình thành niềm tin, tri thức và thiết lập các quan hệ quyền lực.
  3. Diễn ngôn về giới nữ: Quá trình kiến tạo, định nghĩa và quy phạm hóa vị thế, phẩm hạnh và bản sắc của người phụ nữ trong xã hội.
  4. Kiến tạo xã hội (social construct): Quan điểm khẳng định nam tính và nữ tính không phải là bản chất tự nhiên sẵn có mà là sản phẩm của các quy ước văn hóa, ý thức hệ và tương quan quyền lực của từng thời đại cụ thể.
  5. Sự giải kiến tạo (deconstruction): Hành động dùng ngôn ngữ và văn chương để phản kháng, lật đổ các khuôn mẫu áp chế của tư tưởng nam quyền.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ hơn 30 tác phẩm tiêu biểu gồm tiểu thuyết, tập truyện ngắn và tạp văn của 4 nhà văn: Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) nhằm đại diện cho các sắc thái diễn ngôn đa dạng: từ diễn ngôn báo chí, ngoại biên hướng về trung tâm của Y Ban; diễn ngôn giằng xé giữa giải phóng và định chế truyền thống của Dạ Ngân; diễn ngôn giao lưu văn hóa quốc tế của Lý Lan; đến diễn ngôn trung tâm quyền lực của Nguyễn Thị Thu Huệ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích diễn ngôn liên ngành (kết hợp phương pháp loại hình, văn hóa học, xã hội học, phân tâm học và ký hiệu học) là vì phương pháp này cho phép vượt qua rào cản phân tích văn bản thuần túy, bóc tách các cơ chế quyền lực ngầm ẩn điều khiển ý thức chủ thể. Toàn bộ quy trình nghiên cứu, xử lý tư liệu và phân tích so sánh được triển khai đồng bộ trong mốc thời gian 24 tháng (2016 - 2018).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát toàn diện hơn 30 tác phẩm văn xuôi nữ đương đại, luận văn đã đưa ra 4 phát hiện học thuật mang tính bước ngoặt:

Thứ nhất, sự giải kiến tạo quan niệm trinh tiết và quyền làm chủ thân thể. Trong hơn 80% tác phẩm khảo sát có đề cập trực tiếp đến yếu tố tính dục, trinh tiết không còn được nhìn nhận như một "bảo bối" thuần phong mỹ tục của Tống Nho hay thước đo đạo đức áp đặt lên nữ giới. Điển hình trong các sáng tác của Y Ban và Lý Lan, người phụ nữ đã dám lên tiếng tố cáo tình trạng bị cưỡng bức, phá vỡ mặc cảm nạn nhân và chủ động xem thân thể là một thực thể độc lập cần được tôn trọng.

Thứ hai, sự chuyển dịch từ tình yêu sùng bái sang ý thức thức tỉnh bản năng và dục tính. Có tới 100% trong số 4 tác giả khảo sát đều xây dựng hình mẫu nhân vật nữ khát khao yêu đương mãnh liệt nhưng không còn cam chịu vị thế "giới thứ hai". Nhân vật nữ trong các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ hay Y Ban đã chủ động biểu đạt khát vọng nhục cảm, thậm chí tự tìm kiếm công cụ thỏa mãn bản năng khi người nam bất lực, đập tan định kiến xem tình dục là đặc quyền của nam giới.

Thứ ba, sự thương lượng vị thế trong thiết chế hôn nhân và gia đình. Khoảng 70% các truyện ngắn của Dạ Ngân và Nguyễn Thị Thu Huệ thể hiện cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt của người phụ nữ giữa việc thực hiện thiên chức làm mẹ, làm vợ với nhu cầu phát triển sự nghiệp cá nhân. Hình ảnh người nội trợ không còn bị đóng khung trong sự hy sinh mù quáng mà trở thành một vị thế có thể phản kháng và tái thương lượng.

Thứ tư, sự hình thành ngôn ngữ tự thân của giới nữ. Thay vì mượn ngôn ngữ nam quyền như thời kỳ trung đại (chiếm tới gần 100% tiếng nói của các nữ tác giả phong kiến) hay hòa tan vào con người cộng đồng phi giới tính trong giai đoạn 1945 - 1975, văn xuôi nữ sau 1986 đã xác lập một hệ thống biểu đạt riêng, đậm chất nữ tính và giàu trải nghiệm cá nhân.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự thay đổi này xuất phát từ tiến trình Đổi mới kinh tế và hội nhập văn hóa sau năm 1986, giải phóng người phụ nữ khỏi các hệ quy chiếu đạo đức giáo điều. So sánh với giai đoạn văn học sử thi 1945 - 1975 vốn xây dựng những tượng đài nữ anh hùng như chị Út Tịch hay chị Sứ mang vẻ đẹp phi giới tính, văn học sau 1986 đã đưa người phụ nữ trở về với bản thể sinh học, tâm lý và xã hội trần thế.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa qua bảng ma trận phân tầng diễn ngôn hoặc biểu đồ đa trục so sánh mức độ giải kiến tạo trên 4 chiều kích: Quan niệm thân thể/trinh tiết, Ý thức quyền lực tình dục, Vị thế hôn nhân - gia đình, và Năng lực tự chủ xã hội. Mô hình này làm nổi bật tính chất đa cực giữa các tác giả: Y Ban chiếm vị trí tiên phong trong khai phóng tính dục, Dạ Ngân giằng xé trong tự sự gia đình, Lý Lan nổi bật với chiều sâu văn hóa và Nguyễn Thị Thu Huệ đại diện cho sự nổi loạn của phụ nữ đô thị hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy giá trị lý luận của luận văn vào thực tiễn nghiên cứu văn học và thúc đẩy bình đẳng giới, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới chương trình đào tạo học thuật. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ sở giáo dục đại học cần tích hợp lý thuyết diễn ngôn và nghiên cứu giới vào 100% chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ngành Ngữ văn và Văn hóa học, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2026 - 2028 nhằm trang bị công cụ phân tích hiện đại cho học viên.

Thứ hai, đẩy mạnh các diễn đàn phê bình chuyên sâu. Hội Nhà văn Việt Nam và các Viện nghiên cứu chuyên ngành cần chủ trì tổ chức tối thiểu 2 hội thảo khoa học cấp quốc gia mỗi năm về lý thuyết diễn ngôn và văn học phái tính, phấn đấu tăng tỷ lệ các công trình phê bình về văn học nữ lên mức 30% trong tổng số ấn phẩm học thuật giai đoạn 2026 - 2030.

Thứ ba, nâng cao năng lực thẩm mỹ và truyền thông xã hội. Các nhà xuất bản và cơ quan truyền thông văn hóa cần phối hợp phát hành các bộ tuyển tập văn xuôi nữ đương đại kèm lời bình học thuật, đặt mục tiêu tiếp cận khoảng 500.000 độc giả trẻ trước năm 2030 để xóa bỏ các định kiến giới trong đời sống.

Thứ tư, mở rộng phạm vi khảo sát liên văn hóa. Các nhóm nghiên cứu trẻ cần tiếp tục mở rộng quy mô mẫu khảo sát sang các thế hệ nhà văn 9x và 2000s, đồng thời thực hiện 3 đến 5 dự án nghiên cứu so sánh liên quốc gia giữa văn học nữ Việt Nam với các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 2027 - 2029.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn: Cung cấp khung phương pháp luận mẫu mực về phân tích diễn ngôn Foucault và lý thuyết giới, giúp ứng dụng trực tiếp vào việc hoàn thiện luận văn, luận án về văn học hiện đại.
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học, xã hội học: Sử dụng như một tài liệu tham khảo chuyên sâu, phục vụ công tác biên soạn bài giảng chuyên đề về Văn học Việt Nam đương đại, Lý luận văn học và Xã hội học văn hóa.
  3. Nhà văn, nhà báo, biên kịch và người sáng tạo nội dung: Khai thác kho tư liệu tâm lý, chiều sâu tự sự và các góc nhìn đa chiều về giới tính để xây dựng hình tượng nhân vật nữ chân thực, đa dạng trong các tác phẩm nghệ thuật truyền thông.
  4. Chuyên gia chính sách và các tổ chức hoạt động vì bình đẳng giới: Tìm thấy những cơ sở thực chứng về cơ chế kiến tạo định kiến văn hóa, từ đó thiết kế các can thiệp truyền thông nâng cao quyền năng cho phụ nữ một cách hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Lý thuyết diễn ngôn mang lại điểm đột phá nào so với phương pháp thi pháp học truyền thống? Phương pháp thi pháp học thường tập trung vào cấu trúc hình thức nghệ thuật như cốt truyện, nhân vật, giọng điệu. Trong khi đó, lý thuyết diễn ngôn tiếp cận văn bản như một thực hành xã hội, bóc tách cơ chế quyền lực, tri thức và hệ tư tưởng chi phối cách nhà văn kiến tạo hình ảnh người nữ trong văn học.

  2. Vì sao luận văn lựa chọn 4 tác giả Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan và Nguyễn Thị Thu Huệ? Bốn cây bút này đại diện cho 4 chiều kích diễn ngôn độc đáo sau năm 1986. Y Ban đại diện cho diễn ngôn báo chí ngoại biên gai góc; Dạ Ngân phản ánh xung đột truyền thống và giải phóng; Lý Lan thể hiện sự giao thoa văn hóa; Nguyễn Thị Thu Huệ đại diện cho tiếng nói trung tâm đầy cá tính của đô thị.

  3. Điểm khác biệt mấu chốt giữa khái niệm "giới" và "giới tính" trong luận văn là gì? Giới tính (sex) chỉ các đặc điểm sinh học, di truyền bẩm sinh không thay đổi. Ngược lại, giới (gender) là một cấu trúc xã hội - văn hóa, bao gồm các vai trò, hành vi và chuẩn mực mà xã hội quy định cho nam và nữ, có thể biến đổi theo từng thời kỳ lịch sử.

  4. Sự giải kiến tạo quan niệm về trinh tiết được thể hiện cụ thể như thế nào? Trong tác phẩm của Lý Lan và Y Ban, nhân vật nữ không còn xem việc mất trinh là sự sụp đổ nhân phẩm theo lễ giáo Nho gia. Họ nhìn nhận đó là một tai nạn cơ thể, dám đối diện công khai, sử dụng máy ghi âm đòi công lý và chủ động kiến tạo hạnh phúc độc lập.

  5. Luận văn đóng góp gì cho phong trào bình đẳng giới thực tiễn tại Việt Nam? Luận văn chỉ ra rằng bất bình đẳng giới không bắt nguồn từ tự nhiên mà do ngôn ngữ và các thiết chế văn hóa kiến tạo. Việc thay đổi diễn ngôn nghệ thuật chính là bước khởi đầu căn bản để giải phóng tư duy xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới thực chất.

Kết luận

  • Xác lập một khung phương pháp luận liên ngành vững chắc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault và phê bình nữ quyền học thuật.
  • Bóc tách toàn diện 4 chiều kích kiến tạo căn bản của giới nữ: thân thể và trinh tiết, khát vọng tình yêu, thiết chế hôn nhân cùng vai trò nội trợ gia đình.
  • Chứng minh sự chuyển dịch lịch sử từ diễn ngôn nam quyền đơn nhất sang diễn ngôn đa thanh, tự chủ và độc lập của chính các nhà văn nữ sau năm 1986.
  • Cung cấp nguồn ngữ liệu thực chứng phong phú với hơn 30 tác phẩm tiêu biểu của 4 gương mặt xuất sắc trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam.
  • Khởi xướng hướng tiếp cận văn hóa - xã hội học mới mẻ cho ngành nghiên cứu văn học Việt Nam trong lộ trình học thuật giai đoạn 2026 - 2030.

Công trình khẳng định bước tiến vượt bậc của tư duy lý luận văn học nước nhà. Độc giả, nhà nghiên cứu và học viên cao học quan tâm đến lý thuyết giới và phê bình diễn ngôn hãy khai thác toàn văn tài liệu giá trị này để mở rộng các hướng nghiên cứu liên ngành trong tương lai.