Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại

Luận văn thạc sĩ phân tích diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ việt nam đương đại khảo sát sáng tác của dạ ngân y ban lý, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

134
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về diễn ngôn giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam

Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại là một lĩnh vực nghiên cứu đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Từ năm 1986, văn xuôi nữ đã phát triển mạnh mẽ, phản ánh những biến đổi trong xã hội và văn hóa. Các tác phẩm của những nhà văn nữ như Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, và Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ thể hiện những câu chuyện cá nhân mà còn phản ánh những vấn đề xã hội sâu sắc. Việc nghiên cứu diễn ngôn này giúp hiểu rõ hơn về cách mà hình ảnh giới nữ được kiến tạo và tiếp nhận trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.

1.1. Khái niệm diễn ngôn và giới nữ trong văn học

Diễn ngôn về giới nữ không chỉ đơn thuần là ngôn ngữ mà còn là cách thức thể hiện và kiến tạo hình ảnh của phụ nữ trong văn học. Khái niệm này giúp phân biệt giữa giới và giới tính, đồng thời chỉ ra rằng hình ảnh giới nữ là sản phẩm của sự kiến tạo xã hội.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu diễn ngôn giới nữ

Nghiên cứu diễn ngôn giới nữ không chỉ giúp làm rõ vai trò của phụ nữ trong văn học mà còn phản ánh những thay đổi trong nhận thức xã hội về giới. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội.

II. Vấn đề và thách thức trong diễn ngôn về giới nữ

Mặc dù văn xuôi nữ Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thể hiện và tiếp nhận diễn ngôn về giới nữ. Các tác phẩm thường bị ảnh hưởng bởi các định kiến xã hội và văn hóa truyền thống, dẫn đến việc hình ảnh giới nữ không được thể hiện một cách đa dạng và phong phú. Điều này đặt ra câu hỏi về cách mà các nhà văn nữ có thể vượt qua những rào cản này để tạo ra những tác phẩm có giá trị.

2.1. Những định kiến xã hội ảnh hưởng đến diễn ngôn

Định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến cách mà các nhà văn nữ thể hiện nhân vật của mình. Những hình ảnh này thường bị giới hạn trong khuôn khổ truyền thống, dẫn đến sự thiếu đa dạng trong diễn ngôn.

2.2. Sự cần thiết phải tái định nghĩa nữ tính

Việc tái định nghĩa nữ tính trong văn xuôi nữ là cần thiết để phản ánh đúng bản chất và vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện đại. Điều này không chỉ giúp nâng cao giá trị của tác phẩm mà còn góp phần thay đổi nhận thức xã hội về giới.

III. Phương pháp nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ

Để nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phương pháp phân tích văn hóa, xã hội học và phân tâm học. Những phương pháp này giúp làm rõ cách mà hình ảnh giới nữ được kiến tạo và tiếp nhận trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ mang lại cái nhìn toàn diện hơn về diễn ngôn giới nữ.

3.1. Phương pháp phân tích văn hóa

Phương pháp này giúp đặt văn học vào trong bối cảnh văn hóa, từ đó lý giải các hình ảnh giới nữ trong tác phẩm. Việc nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ sẽ được đặt vào cái bối cảnh văn hóa truyền thống và đương đại để hiểu rõ hơn về sự kiến tạo này.

3.2. Phương pháp xã hội học

Phương pháp xã hội học giúp nhìn nhận diễn ngôn như là sản phẩm của tư tưởng hệ và lịch sử xã hội. Điều này cho phép phân tích cách mà các nhà văn nữ phản ánh và thách thức các cấu trúc quyền lực trong xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu diễn ngôn giới nữ

Nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới. Các tác phẩm văn xuôi nữ có thể trở thành công cụ để giáo dục và thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của phụ nữ. Điều này có thể góp phần vào việc xây dựng một xã hội công bằng hơn.

4.1. Tác động đến giáo dục và truyền thông

Các nghiên cứu về diễn ngôn giới nữ có thể được áp dụng trong giáo dục để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới. Việc đưa các tác phẩm văn xuôi nữ vào chương trình học sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về vai trò của phụ nữ trong xã hội.

4.2. Thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội

Nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ có thể góp phần vào việc thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội, từ việc nâng cao vị thế của phụ nữ đến việc thay đổi các định kiến xã hội. Điều này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho sự phát triển của phụ nữ.

V. Kết luận và tương lai của diễn ngôn giới nữ

Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để hình ảnh giới nữ được thể hiện một cách đa dạng và phong phú hơn. Tương lai của diễn ngôn này phụ thuộc vào sự nỗ lực của các nhà văn nữ trong việc tái định nghĩa nữ tính và vượt qua các rào cản xã hội.

5.1. Triển vọng phát triển diễn ngôn giới nữ

Triển vọng phát triển diễn ngôn giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam là rất lớn. Các nhà văn nữ có thể tiếp tục khám phá và thể hiện những khía cạnh mới của giới nữ, từ đó tạo ra những tác phẩm có giá trị và ý nghĩa.

5.2. Vai trò của các nhà văn nữ trong tương lai

Các nhà văn nữ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình diễn ngôn về giới nữ trong tương lai. Họ cần tiếp tục nỗ lực để tạo ra những tác phẩm phản ánh đúng bản chất và vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện đại.

30/06/2025
Luận văn thạc sĩ diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ việt nam đương đại khảo sát sáng tác của dạ ngân y ban lý lan nguyễn thị thu huệ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 GIỚI NỮ NHƯ LÀ SẢN PHẨM KIẾN TẠO XÃ HỘI Chương này phân biệt khái niệm giới và giới tính; diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nữ [chủ thể sáng tạo] và diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nam [chủ thể sáng tạo]. Đồng thời khẳng định nam tính và nữ tính không phải là tự nhiên, mà là các sản phẩm kiến tạo về mặt xã hội. Diễn ngôn về giới nữ thay đổi theo từng ngữ cảnh văn hóa xã hội. Khái niệm giới, diễn ngôn và diễn ngôn về giới nữ Giới (gender) khác với giới tính (sex).

Lâu nay trong một số thực hành phê bình văn học, hai khái niệm này được xem là đồng nghĩa, do đó thường bị dùng lẫn lộn, thay thế cho nhau. Theo các nhà xã hội học, giới tính lá khái niệm dùng chỉ sự khác biệt về sinh lý căn bản giữa đàn ông và đàn bà, “khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh sản” [132, tr. Còn khái niệm giới đề chỉ chị sự phân biệt về mặt xã hội và văn hóa. Các nhà nhân học xã hội cũng phân biệt, khái niệm “giới là sản phẩm của của văn hóa liên quan đến những quan niệm và hành vi được xem là phù hợp với mỗi giới tính” [132, tr.17], giới là “cấu trúc văn hóa - xã hội” [132, tr.20], “giới được tạo thành không chỉ trong gia đình hoặc trong quan hệ giữa các cá nhân mà còn trong cấu trúc của tất cả các thiết chế xã hội chủ yếu, bao gồm trường học, tôn giáo, kinh tế và chính trị; những thiết chế này định hướng cho tất cả chúng ta nam giới hay phụ nữ, những thành viên trong một xã hội cụ thể” [132, tr.

Giới tính là thuật ngữ chỉ “những đặc điểm nhận dạng bên ngoài phân biệt một người nam với một người nữ, cần thiết cho sự tái sản xuất sinh học của con người” [132, tr. Trong khi giới tính là một đặc trưng sinh học thì giới là một đặc trưng xã hội-văn hóa. Vì là đặc điểm sinh học nên giới tính có tính bẩm sinh, đồng nhất, phổ quát và không thay 9 đổi; cũng như vậy, do là đặc trưng văn hóa-xã hội nên giới có là sản phẩm xã hội hóa, có tính đa dạng, đặc thù cho từng thời kỳ, văn hóa, xã hội và có thể thay đổi. Theo các nhà nữ quyền luận, không chỉ giới mà cả giới tính đều là các kiến tạo xã hội.

Không có sự khác biệt tự nhiên giữa giới nam và giới nữ, yếu tố sinh học không quy định các hành vi xã hội của con người, mà chính cấu trúc văn hóa xã hội [thông qua các thiết chế như gia đình, nhà trường, các phương tiện thông tin đại chúng…] quy định sự khác biệt đó. Sự khác biệt giữa giới nam và giới nữ là do xã hội, văn hóa tạo nên chứ không phải là sự tồn tại đương nhiên, tự nhiên, sẵn có. Ngay cả giới tính cũng có thể do xã hội, văn hóa tạo nên, tạo ra. Diễn ngôn là ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ trong sự hành chức của nó.

Nói đến diễn ngôn là “nói đến những phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức hoạt động ngôn từ” [158, tr. Diễn ngôn là quá trình kí hiệu hóa để tạo nghĩa. “Diễn ngôn được tạo lập nên từ tri thức và những quan hệ quyền lực đa dạng trong cuộc sống. Diễn ngôn, đến lượt nó, cũng là phương cách tạo lập nên tri thức, cùng với những thực hành xã hội, các dạng thức của chủ thể và mối quan hệ quyền lực.

Được bắt rễ trong ngôn ngữ, diễn ngôn tạo ra niềm tin, niềm tin biến thành tri thức, và tri thức tạo nên quyền lực. Bởi vậy sẽ không có tri thức nào là chân lý tuyệt đối và hoàn toàn khách quan” [149, tr. Mọi diễn ngôn đều là sản phẩm của văn hóa, xã hội. Khái niệm diễn ngôn của giới nữ khác với diễn ngôn về giới nữ.

Khái niệm thứ nhất đề cập đến giới nữ như một chủ thể, xác định giới nữ có một diễn ngôn so với giới nam. Diễn ngôn của giới nữ có thể kiến tạo nghĩa cho bất cứ hiện tượng, đối tượng nào Trong khi đó khái niệm thứ hai, cho thấy, giới nữ là đối tượng định nghĩa của diễn ngôn, chủ thể của diễn ngôn đó có thể là giới nam hoặc chính là giới nữ. Nữ tính, nam tính như là sự kiến tạo xã hội Như đã nói ở trên (đồng thời cũng là quan điểm của luận văn này), giới nam và giới nữ là sản phẩm của sự kiến tạo xã hội. Nam tính và nữ tính trong phạm vi luận văn không được dùng theo nghĩa sinh học, mà là những kiến tạo xã 10 hội, văn hóa.

Nam tính và nữ tính không phải là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm của xã hội. Thừa nhận, nam tính và nữ tính là sản phẩm văn hóa, thì “tất yếu phải chấp nhận một thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi là nam tính (masculine) hay nữ tính (femininity). Nam tính hay nữ tính biến đổi một cách đa dạng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác; và ngay trong một nền văn hóa thì nam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác. Điều này giải thích vì sao trong những công trình nghiên cứu về giới hiện nay nam tính hay nữ tính thường được dùng ở dạng số nhiều: những - nam tính (masculinities) và những – nữ tính (femininities).

… những quy phạm về nữ tính và nam tính không phải là một tồn tại có tính chất tự nhiên mà là sản phẩm của diễn ngôn được kiến tạo từ một hệ hình tri thức và những tương quan quyền lực của một thời đại cụ thể. Giới nữ trong văn học như là một vấn đề văn hóa - xã hội "Đàn ông có thể coi văn chương như một thứ say mê, tạo kỳ đài. Còn đàn bà viết văn xưa nay phần nhiều là để trải lòng. Viết cho mình.

Viết bằng thứ bản năng mách bảo thần thánh nhiều hơn là viết bằng trí khôn. Thế nên, đàn ông viết văn nhiều khi viết bằng cái thông minh lồng lộng, còn đàn bà thường viết bằng tình yêu, bằng trái tim giàu trắc ẩn". Nếu coi văn chương là lĩnh vực của sự sáng tạo, sự độc đáo, nơi cá tính được tôn vinh thì việc phụ nữ cầm bút làm văn chương xác nhận nhu cầu khẳng định giới tính của mình. Bởi vậy, dù họ đề cập tới những vấn đề vĩ mô hay nhỏ bé, xa xôi hay gần gụi thì văn chương vẫn bộc lộ sự tinh tế, những góc nhìn riêng của đặc trưng giới tính.

“Xưa nay bất kỳ nước nào cũng vậy, văn học là phần đàn ông, đàn ông là trung tâm của văn học” [57, tr.423], văn chương ở xứ ta bao đời nay dường như vẫn chỉ dành riêng cho vài đấng nam nhi thi thố. Phụ nữ “như đã bị ruồng đuổi ra ngoài bờ cõi văn học” [57, tr. 432], một vài gương mặt phụ nữ hiếm hoi xuất hiện được coi là hiện tượng đặc biệt, là hiện tượng của văn chương. Tác phẩm của họ được xem như là những tiếng nói than thân, phản kháng chế độ nam quyền, là lời kêu gọi sự ban ơn của nam giới.

Nhưng người phụ nữ hiện 11 đại chọn viết văn để “sống một cuộc sống khác” (lời tự bạch của Xuân Quỳnh), họ viết văn bằng tri thức, bằng thái độ kiêu hãnh tự tin khẳng định bản lĩnh giới mình và giá trị văn chương của mình. Họ dùng văn chương để “tấn công vào những quan niệm đầy màu sắc nam quyền, tố cáo tình trạng bị nhào nặn thành phụ nữ theo những tín điều người khác áp đặt cho giới mình” [57, tr. Gần một thế kỷ trước, Phan Khôi đã dự đoán rằng biết đâu nữ lưu sau này sẽ “trở nên người chủ trương của văn học”. “Nếu văn học mà quả lấy nữ tánh làm trung tâm thì đàn bà chủ trương lấy nền văn học là phải, mà như vậy thì văn học có lẽ lại tấn bộ hơn trước.

Chỉ mấy chục năm sau lời tiên tri của Phan Khôi đã thành sự thật. Phan Khôi, người được coi là tiếp nhận văn học từ ánh sáng của nữ quyền, trong bài viết: Văn học với nữ tánh ông đưa ra những luận giải vì sao nữ giới có quan hệ với văn học. Ông cho rằng đàn bà có nhiều tính chất thích hợp với văn học như trầm tĩnh, nhẫn nại, nhiều tình cảm,.vì thế đàn bà lấy những tính đó mà chuyên theo nghề văn học thì dễ và mau chóng thành công hơn đàn ông. Văn học với nữ tính có quan hệ, nữ tính choán hết mấy phần trong văn học.

Ông đưa ra hai ý kiến. Thứ nhất, phụ nữ là biểu hiện cho cái đẹp và những gì liên quan đến cái đẹp đều gắn với họ, còn “cái đẹp là cái cốt của văn học” cho nên “văn học hay tả về đàn bà”; thứ hai, phụ nữ vốn mang bản chất của nữ tính, sự mềm mại, yếu đuối, thiên về bộc lộ đời sống tình cảm từ bên trong mà “văn học trọng đường tình cảm”, nên văn học “nói chuyện đàn bà thì khiến cho người ta dễ cảm, cho nên nói về đàn bà nhiều hơn” [57, tr. Vậy, điều kiện nào để phụ nữ trở thành chủ thể sáng tạo? Trước hết phải là học. “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ” (Beauvoir).

Những thuộc tính mà từ trước đến nay người ta vẫn áp đặt cho phụ nữ không phải là cái vốn có, bản chất phụ nữ, mà do người đàn ông áp đặt cho phụ nữ thông qua văn hóa, giáo dục. Mặt khác bản thân người phụ nữ cũng luôn cho rằng mình yếu kém hơn đàn ông, mình là “thứ hai”. Nước ta từ xưa tới nay trọng nam khinh nữ, đàn bà sinh ra chỉ là cái vật phụ thuộc vào đàn ông nên không cần học hành mà tự đàn bà 12 cũng nghĩ rằng không cần học làm gì, chỉ một mình đàn ông học cũng đủ [57, tr. Trong xã hội phụ quyền, phụ nữ học chỉ để phục vụ chồng con và những người thân trong gia đình mà không được thi thố ngoài xã hội, bởi phụ nữ còn phải tuân theo các quy tắc “Tam tòng”, “Tứ đức”.

Quan niệm “phụ nhân nan hóa” ấn định rất rõ ràng trong đời sống văn hóa, người phụ nữ luôn bị coi và tự coi là “phái yếu. Chữ “tài”, chữ “trí” chỉ gắn liền với người quân tử, kẻ trượng phu. Phụ nữ bị xếp chung hàng với hạng tiểu nhân. Họ không có quyền đi học hay tham gia thi cử, không có mặt trong bộ máy quản lí làng xã hay có bất kì tiếng nói nào trong những vấn đề “nghị sự”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại" khám phá những khía cạnh đa dạng của giới nữ trong văn học hiện đại Việt Nam, nhấn mạnh vai trò và vị trí của phụ nữ trong xã hội qua lăng kính văn chương. Tác giả phân tích cách mà các tác phẩm văn xuôi phản ánh những vấn đề về giới, từ những khó khăn, thách thức đến những thành tựu và sự khẳng định bản thân của phụ nữ. Độc giả sẽ tìm thấy những góc nhìn sâu sắc về sự phát triển của nhân vật nữ, cũng như cách mà văn học góp phần vào việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ văn học quan niệm nhân sinh của người phụ nữ qua các sáng tác văn xuôi thời kỳ đổi mới, nơi phân tích sâu sắc về nhân sinh quan của phụ nữ trong bối cảnh văn học đổi mới. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn Cao Duy Sơn sẽ cung cấp cái nhìn chi tiết về hình tượng nhân vật nữ trong tác phẩm của tác giả này. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Sự thức tỉnh của người phụ nữ trong văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX, một công trình nghiên cứu thú vị về sự phát triển và khẳng định bản thân của phụ nữ trong văn học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của giới nữ trong văn học Việt Nam.