MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ra mắt lần đầu năm 1868, tiểu thuyết Little Women của L.Alcott đã ngay lập tức gây được tiếng vang, bước qua không - thời gian nước Mỹ thế kỉ 19 dé trở thành một tác phẩm văn học kinh dién trên toàn thế giới. Khai phá tập trung vấn đề gia đình, nổi bật là hình tượng “những người con gái nước Mỹ” — “All-American girls” đầy đủ khía cạnh: vừa đậm chat nữ tính cùng thiên hướng gia đình, nhưng cũng tràn đầy ước mơ, khát vọng. Thông qua hành trình của các thành viên nha March, L.Alcott đã lưu giữ trong “đứa con tinh thần” giàu tâm huyết những bai học làm người trân quý, đồng thời mở ra cánh cửa khám phá những hiện tượng, vấn đề nhen nhóm trong xã hội bay giờ.
Hơn 150 năm, đến ngày nay, Little Women vẫn được tái bản liên tục, giữ vững danh hiệu cuốn sách “gối đầu giường”, thu hút không chỉ những cô bé, cậu bé tuổi mới lớn mà còn hấp dẫn cả độc giả lớn tuổi nhờ cách khai thác dé tài thú vị và lỗi kế chuyện thu hút. Bên cạnh đó, sức sống của tác phâm nay còn được khẳng định theo một con đường đặc biệt: hoạt động chuyển thể. Bắt đầu từ phiên bản đầu tiên năm 1917, tính đến 2020, đã có mười hai phiên bản chuyền thé của cuốn tiểu thuyết, bao gồm phim ngắn, phim điện ảnh, phim truyền hình dài tập và thậm chí là nhạc kịch. Trong đó, nổi bật nhất là hai phiên bản man ảnh rộng năm 1994 của Courtesy Columbia Pictures do Gillian Armstrong dao diễn va năm 2019 của Wilson Webb do Greta Gerwig dai diễn.
Vào thời điểm công chiếu, cả hai bộ phim đều nhận được sự hưởng ứng của khán giả cũng như những nhận xét tích cực của giới phê bình phim. Chuyén thé đóng góp một phần không nhỏ trong cuộc chạy đua tiếp sức cho sự sông tac phâm. Môi một hành trình “tái sáng tạo” bat dau là một lân các nhà nghiên cứu đón nhận những góc nhìn khai phá mới về tác phẩm. Thông qua sự nhìn nhận tiếp thu chọn lọc, cũng như quan điểm tư duy cá nhân khi làm phim, Gillian Armstrong và Greta Gerwig đã thể hiện cách tiếp nhận hình dung gia đình trong tiêu thuyết gốc theo hướng riêng: vừa kế thừa những giá trị cốt lõi của nữ tác giả, vừa kiến tạo nên những khía cạnh mới mẻ về nhân vật, cách kế chuyện cũng như các bài học tư tưởng.
Sự tồn tai của con người qua các thời kì luôn song hành cùng nhiệm vụ giải mã thế giới. Đứng trước những biến động bat ổn, phi lí của cuộc sống, các ngành khoa học nhân văn không ngừng sản sinh những hướng nghiên cứu lí thuyết mới, trở thành chỗ dựa dé kiến giải mâu thuẫn, mở ra góc nhìn đổi thay về các định kiến kiên cé trong lịch sử phát triển con người. Với sự năng động của các lí thuyết, khoa học văn học ngày càng mở rộng và có xu hướng chạm đến những bình diện ngoài văn bản như bối cảnh xã hội, tiêu sử tác giả dé nhìn nhận tác phẩm trọn vẹn nhất. Mỗi tác phẩm văn học nhờ vậy không còn là một thê đóng kín, hoàn chỉnh trong giai đoạn được sản sinh mà luôn luôn được nhìn nhận đôi mới, nghiên cứu va xoay vần trên nhiều bình diện, thé tài, thời kì tư tưởng khác nhau.
Bắt dau từ thế ki XX, trong các ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung và khoa học văn học nói riêng, phân tích diễn ngôn có xu hướng trở thành lí thuyết nghiên cứu vượt trội hơn cả. Bên cạnh đó, gia đình vốn không phải đề tài xa lạ trong sáng tác hay nghiên cứu văn chương. Gia đình được coi là một cộng đồng xã hội thu nhỏ, chi phối và bị chi phối từ tat cả phương điện con người, văn hoá, kinh tế. Ap dụng lí thuyết diễn ngôn dé khai phá van dé gia đình trong tác phẩm là hướng kiến giải dé nhìn nhận trọn vẹn về sự hình thành cá thé, các quan điểm xã hội và những xu hướng đột phá có thể xảy ra.
Đặc biệt, xét trong phạm vi tiểu thuyết Little Women, gia đình cùng mối quan hệ giữa các nhân vật nữ, giữa giới nữ với thê giới bên ngoài là vân đê nôi bật cân được lưu tâm. Sự hình 4 thành của một gia đình toàn nữ, khuất bóng người đàn ông cùng quá trình trưởng thành, đối mặt với thử thách ngoài xã hội của chị em Jo đã mở ra những quan điểm, góc nhìn mới về vai trò, vị trí, giá trị của giới nữ không chỉ dưới mái nhà mà còn định hình trong xã hội. Lựa chon phân tích diễn ngôn gia đình thé hiện trong Little Women, người viết mong muốn làm rõ, khăng định tài năng cùng sức sáng tạo của L.Alcott trong việc xây dựng câu chuyện nha March, qua đó khái quát vai trò của tô ấm trên hành trình trưởng thành mỗi con người. Bên cạnh đó, dưới góc nhìn tương quan từ văn học đến hai bộ phim điện ảnh, luận văn nhấn mạnh những giá trị cốt lõi vượt thời gian của văn bản gốc, đồng thời đánh giá hiệu quả những kế thừa, kiến tạo riêng trên hành trình chuyên thê - “sống” sáng tao của tiêu thuyết.
Lịch sử vấn đề 2. Cơ sở lí thuyết Từ thế kỉ XX, với tính chất năng động, diễn ngôn trở thành lí thuyết hấp dẫn trong giới phê bình cùng hàng loạt những công trình khai thác phong phú, mới mẻ. Trong đó, luận văn tiếp thu một số kiến giải về diễn ngôn trong các công trình của Mikhail Bakhtin, Michel Foucault và Dominique Maingueneau. Mikhail Bakhtin — học giả người Nga với tam ảnh hưởng sâu rộng đến lý luận mỹ học, văn học thé ki XX — đã có những kiến giải quan trọng về diễn ngôn trên phương diện thi pháp học.
Bakhtin quan tâm đến ngôn ngữ không phải công cụ hay vỏ tư duy thuần tuý mà là biểu hiện của những giá trị tư tưởng hệ. Trong những nghiên cứu về tiểu thuyết, M. Bakhtin đặc biệt chú trọng đến vấn đề không — thời gian (chronotope), và nhấn mạnh phân tích diễn ngôn găn liền với ngữ cảnh. “Chronotope” được hiểu là sự gắn kết chặt chẽ giữa không gian và thời gian trong các sáng tác văn học.
Không — thời gian này không chỉ tồn tại trong nội tại tác phẩm mà còn được chi phối bởi thực tiễn xã hội và phông nền văn hoá. Nói cách khác, theo thuyết phê bình của nhà nghiên cứu người Nga, diễn ngôn luôn gắn chặt với ngữ cảnh. Mỗi phát ngôn là một lời nói của tư tưởng, bị chi phối bởi các hệ giá trị. Chính vì vậy, mỗi một chiều kích không - thời gian khác biệt, diễn ngôn đều có sự thay đồi.
Những năm 60 cua thế ki XX, nha chủ nghia hoc cau tric Michel Foucault là một trong những học giả có tam anh hưởng sâu rộng nhất đến việc định hình lí thuyết diễn ngôn nhìn từ góc độ xã hội học. Bắt đầu từ chuyên khảo lớn đầu tiên năm 1962 Chứng điên và sự văn mình (Madness and Civilization: A History of Insanity in the Age of Reason), cho đến Sự ra đời cua bệnh viện chuyên khoa (The Birth of the Clinic) hay Ki luật va Trung phat (Discipline and Punish), M. Foucault xoay quanh khang định mối quan hệ phụ thuộc mạnh mẽ giữa “tri thức” và “quyền lực”. Tương đồng với Bakhtin, Foucault nhìn nhận ngôn ngữ vượt biên khỏi giới hạn của một vỏ vật chất làm công cụ giao tiếp thuần tuý, gắn nó với những ý nghĩa chi phối bởi lịch sử, tư tưởng, tâm lý xã hội.
Tuy nhiên, cách Foucault khắng định tầm ảnh hưởng toàn vẹn của diễn ngôn lên thực tế xã hội được coi là điểm sáng mới mẻ, khiến chính lý luận của ông trở thành hiện tượng nghiên cứu tiếp nối trong nhiều công trình. Năm 1970, bài viết Trật tr của diễn ngôn (The Order of Discourse) đã đưa ra các cách hiểu về diễn ngôn của Foucault. Với góc nhìn rộng nhất, “tat cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực, đều được coi là diễn ngôn” [17]. Mọi nhận định của con người về thế giới, không bai trừ bat kì khía cạnh hay phương diện nào, đều nằm trong diễn ngôn.
Diễn ngôn không phải sự mô phỏng hay nói lại thực tiễn đời sông. Tiến xa hơn, diễn ngôn tác động, thay đồi và kiến tạo thé giới. Không có một giới hạn nảo cho sự xuất hiện của diễn ngôn, đồng nghĩa với sự đa dạng, đa thanh, luôn biến đôi của cuộc sống con người. Bên cạnh đó, Foucault bày tỏ xu hướng diễn ngôn thành “nhóm các nhận định được cá thé hoá” với chung cách hiểu, hiệu lực (diễn ngôn gia đình, diễn ngôn nữ quyén, diễn ngôn tính duc.
Dựa trên cốt lõi lí luận về diễn ngôn của mình, Foucault chủ trương mục đích đăng sau phân tích văn học là câu chuyện lý giải sự chi phối của quyền lực và tri thức. Ở đâu có sự mat cân bang vé quyén lực, ở đó san sinh ra một loại tri thức phụ thuộc. Cán cân quyền lực nghiêng về một phía tất yếu làm nảy sinh những “cặp nhị phân” sóng đôi giữa giới nam - giới nữ, kẻ giàu - kẻ nghèo. Văn chương thực hiện sứ mệnh của ngành khoa học nhân văn khi cất lên tiếng nói của người yếu thế trong xã hội.
Khi đó, thực chất nghiên cứu diễn ngôn không chỉ là sự cắt nghĩa tư duy nhận thức, mà còn báo hiệu sự đồi thay trong tri nhận của con người về cuộc sống và về chính thân phận mình. Từ đây, mối quan hệ giữa tác giả và tác phâm của anh ta cũng là điều đáng lưu tâm. Trường hợp của L.Alcott - một nữ nhà văn cấp tiễn với manh nha tư tưởng nữ quyên - viết về một gia đình “toàn nữ” như một dấu hiệu báo trước những tiếng nói mới về quyền lực giới nữ cùng gia đình. Thừa kế thành qua của Michel Foucault là những công trình của Dominique Maingueneau với bảy kiến giải về diễn ngôn.
Các khái niệm Maingueneau đưa ra khá mơ hồ về ranh giới và có sự đan cài, chồng chéo nhất định. Tựu chung, nhà ngôn ngữ học người Pháp nhắn mạnh sự tồn tại của “diễn ngôn” trong thế đối lập với “lời nói”. Diễn ngôn khác biệt với lời nói, lời viết hay ngôn ngữ thông thường ở tính động, nối kết chặt chẽ các yếu tố: người phát ngôn - đối tượng được hướng đến - ngữ cảnh tồn tai. Bên cạnh diễn ngôn, chúng tôi lựa chọn lí thuyết nữ quyền như công cụ nền tang để khai thác, phân tích hình dung gia đình March trong Little Women.