CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào cây lúa, vì vậy cây lúa là cây lương thực chính, có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Với địa hình trải dài theo bờ biển từ Bắc vào Nam hình thành nên những cánh đồng phong phú, đa dạng (cánh đồng ở cao nguyên, Trung du và ven biển), và hai cánh đồng phì nhiêu (đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long) tạo nên vựa lúa chính của cả khu vực Đông Nam Á. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam thể hiện ở Bảng 1. Diện tích và sản lượng lúa gạo cả nước từ 2009 đến 2013 Năm Tổng diện tích Tổng sản Đông- Xuân Hè- Thu Vụ Mùa (nghìn ha) lượng (nghìn (nghìn ha) (nghìn (nghìn tấn) ha) ha) 2009 7.985 Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam năm 2013 Năm 2009 trở đi diện tích trồng lúa có xu hướng tăng và đạt 7.899 nghìn ha vào năm 2013.
Diện tích của vụ lúa mùa có xu hướng giảm dần, còn diện tích của vụ đông xuân thì tăng dần theo từng năm. Diện tích vụ hè thu giữ ở mức ổn định và bắt đầu có xu hướng tăng từ năm 2010. Từ năm 2009 trở lại đây sản lượng lúa gạo có xu thế tăng dần. Ngoài việc tăng diện tích trồng lúa thì việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp bằng việc tạo ra những giống lúa mới có năng suất cao, chống chọi được với nhiều loại sâu bệnh cũng góp phần nâng cao sản lượng lúa gạo của cả nước.
5 Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa ưu thế lai vào năm 1983. Lúa lai thương phẩm được gieo trồng tại Việt Nam từ những năm 1991. Lúa lai đã thể hiện được ưu thế về: tiềm năng năng suất, chịu thâm canh và khả năng chống chịu sâu bệnh. Diện tích lúa lai tăng lên nhanh chóng từ 59 ha năm 1991 lên 584.
Động lực thúc đẩy phát triển lúa lai với tốc độ nhanh là sự kết hợp của ba yếu tố: tiềm năng ưu thế lai cao về năng suất, sự quan tâm của lãnh đạo và chính sách hợp lý của Nhà nước. Lúa lai từ khi du nhập vào Việt Nam đã phát triển vượt bậc thúc đẩy nhu cầu sản xuất giống. Diện tích sản xuất hạt giống lúa lai đã tăng từ 123 ha năm 1994 lên 1. Năng suất hạt giống lúa lai F1 ở Việt Nam đạt khoảng 2,0 tấn/ha, kỷ lục đạt 3,5 – 4,0 tấn/ha tại Nam Định, trên tổng số 1500 – 2000 ha/ năm.
Hiện tại Việt Nam sản xuất ra 3.000 tấn hạt lai F1/năm; cung cấp 20 – 25% tổng nhu cầu hạt giống. Lúa lai thương phẩm được phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Năng suất bình quân đạt 6,0 – 6,5 tấn/ha, cao hơn lúa thuần từ 15 – 20 %. Các tổ hợp đang được sử dụng gồm Bác ưu 903, Bác ưu 64, Shan ưu quế 99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, TH3-3, VL20, HYT 83, BTE1.
Tình hình nghiên cứu về sâu, bệnh hại và thiên địch trên cây lúa 1. Tình hình nghiên cứu về sâu, bệnh hại và thiên địch trên cây lúa trên thế giới Trên thế giới có hơn 800 loài sâu hại lúa. Đông Nam á đã phát hiện được khoảng hơn 100 loài, ở Trung Quốc đã phát hiện hơn 200 loài. Tuy nhiên trong số đó chỉ có số ít loài gây hại nặng cho cây lúa, còn đa số không gây hại hoặc ít gây hại.
Số loài gây hại giữa các vùng không giống nhau. Các nước trồng lúa khác nhau thì loài sâu hại chính cũng khác nhau [1]. Ở châu á có tới 20 loài sâu hại chính, ở châu úc chỉ có 9 loài; châu Mỹ là 13 loài và châu Phi có 15 loài. Đa số các loài còn lại ít gây hại hoặc gây hại không đáng kể.
Ở Ấn Độ có 4 loài sâu hại chính đó là sâu đục thân hai chấm, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và sâu năn [1]. 6 Theo Chiu, 1980 ở Trung Quốc có 7 loài gây hại chính là: Sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn và bọ trĩ. Ở Nhật Bản có các loài sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen …Số lượng các loài sâu gây hại chính phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có khoảng 22 loài, giai đoạn làm đòng đến trỗ khoảng 8 loài và giai đoạn chín chỉ có 3 - 4 loài [9]. Một trong những bệnh hại được phát hiện sớm nhất trên lúa là bệnh đạo ôn.
Bệnh đạo ôn do nấm Pirycularia oryzae Cav. gây ra, có lịch sử nghiên cứu lâu đời nhất trong các bệnh hại lúa. Từ nhiều thế kỷ trước, bệnh đã được quan sát thấy ở các nước châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, các nước vùng Trung Á, Tây Á; ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, quần đảo Antin; ở châu Âu: Ý, Bungari, Rummani, Bồ Đào Nha, Liên Xô, … Đến những năm 1560, bệnh đã được phát hiện chính thức ở Ý. Sau đó, bệnh được phát hiện ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ năm 1906, Ấn Độ năm 1913.
Cho đến nay, bệnh đạo ôn đã được ghi nhận có mặt và gây hại ở trên 85 quốc gia trên thế giới bao gồm châu Á, châu Mỹ, châu Âu, châu Phi …là một trong những bệnh hại phổ biến trên cây lúa. Hiện nay bệnh đạo ôn hại lúa là một đối tượng gây tác hại nghiêm trọng nhất ở một số nước như Nhật Bản, Ấn Độ, Philippin và Việt Nam. Triệu chứng bệnh được chia làm 3 dạng là đạo ôn lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông.M, Vergel de Dios, T. (1986) căn cứ vào tính chất và vị trí bộ phận bị nhiễm chia bệnh làm 4 dạng là đạo ôn lá, đạo ôn cổ lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông.[12] Bệnh khô vằn do nấm Rhizoctonia solani gây ra cũng là một bệnh gây tổn thất trong nghề trồng lúa.
Bệnh được phát hiện ở các nước nhiệt đới Châu Á (Philippines 1985, Srilanka 1985, Malaysia 1980, Việt Nam 1911, …) [12]. Bệnh được Miyake mô tả đầu tiên vào năm 1910 tại Nhật Bản. Địa bàn phân bố của bệnh khá rộng ở tất cả các vùng trồng lúa Châu Á và các châu lục khác. Khi bệnh phát triển lên đến lá đòng có thể làm giảm năng suất lúa từ 20-25% (Hori, 1969).
Ở Nhật Bản trong nhiều năm trước đây nấm gây bệnh được xác định là 7 Hypochnus sasakii Shirai (Ou, 1972). Nhiều năm sau nấm được đặt tên Rhizoctonia solani Palo là giai đoạn vô tính của nấm Pellicularia sasakii Shirai = Corticium sasakii. Các loài nấm Rhizoctonia solani đã được tìm thấy bởi Dacandolle mô tả năm 1815, lúc đầu đặt tên là Rhizoctonia crocorum, Rhizoctonia solani là loài quan trọng của nấm Rhizoctonia. Năm 1858, Kuhn cũng đã mô tả chi tiết về loài nấm này.
Hiện nay, người ta nhận thấy bệnh có địa bàn phân bố rất rộng ở tất cả các nước trồng lúa vùng châu Á và môt số nước khác như Brazil, Venezuela, Surinam, Madagasca và Mỹ.[12] Theo Ishikawa, 1928: bệnh lúa lùn được Hashimote, một người trồng lúa phát hiện đầu tiên tại quận Shiga của Nhật Bản vào năm 1883. Sau đó bệnh được phát hiện tại nhiều địa phương của Nhật và gây hại khá nghiêm trọng. Bệnh lúa lùn còn được phát hiện ở Triều Tiên và Trung Quốc. Philippin cũng có thông báo về bệnh [12] Thiên địch rên đồng ruộng được nghiên cứu và chia thành các nhóm như chính như [11]: - Nhóm thiên địch bắt mồi ăn thịt.
Ví dụ: dế nhảy ăn trứng sâu, bọ cánh cứng ăn sâu, bọ rùa ăn rệp, bọ ngựa bắt sâu, rắn bắt chuột, mèo bắt chuột. - Nhóm thiên địch ký sinh. Ví dụ: ong ký sinh nhộng, ong ký sinh sâu cuốn lá, ong ký sinh sâu đục quả, ong ký sinh sâu đo. - Nhóm vi sinh vật gây bệnh hại côn trùng, làm sâu bị bệnh và chết như nấm gây bệnh cho sâu cuốn lá, nấm gây bệnh cho rệp.
Tình hình nghiên cứu về sâu, bệnh hại và thiên địch trên cây lúa ở Việt Nam Nước ta là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm do đó cây cối xanh tốt quanh năm, đây cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát sinh và gây hại. Cây lúa được trồng quanh năm cùng với tập quán canh tác không tập trung, có nơi trong cùng một vụ có nhiều trà lúa khác nhau đã vô tình tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh, phát triển ngày càng nhiều, trong đó sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, bệnh đạo ôn là những đối tượng gây hại rất nghiêm trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp. 8 Cây lúa cũng như nhiều cây trồng khác có rất nhiều đối tượng sâu bệnh gây hại đến năng suất và sản lượng. Thời gian gần đây dịch hại đang ngày càng gây hại hết sức nghiêm trọng, những kết quả điều tra thành phần sâu bệnh hại lúa và thiên địch của chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở lí luận cho việc phòng chống sâu bệnh hiệu quả.
Quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều giống cây khác nhau có năng suất, phẩm chất khác nhau đặc biệt có nhiều giống có khả năng kháng sâu bệnh. Tuy nhiên song song với sự phát triển của khoa học thì sâu bệnh hại cũng phát triển dưới một hình thức cao hơn phong phú hơn vì vậy có nhiều giống mới lai tạo đưa ra sản xuất đại trà chỉ sau vài vụ đã bị nhiễm sâu bệnh hại và bị thoái hóa nghiêm trọng. Nguyên nhân của sự thoái hóa có thể là do điều kiện tự nhiên, điều kiện canh tác và do yếu tố di truyền của giống. Những giống có năng suất cao phẩm chất tốt thì dễ thoái hóa vì đây là những giống dễ bị nhiễm sâu bệnh.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa cây trồng với sâu hại, bệnh hại và các yếu tố ngoại cảnh: Dựa vào mối quan hệ tương hổ và đối kháng giữa các thành viên trong sinh quần cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng. Tìm biện pháp tác động nâng cao tính bền vững của sinh quần để duy trì cân bằng hệ sinh thái trong tự nhiên. Đồng thời hạn chế sự phát sinh của các loài dịch hại cho cây trồng.