CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm NHTM Theo Luật số 02/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” (Điều 10 Luật các TCTD).Rose, xem xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà các tổ chức này cung cấp: “NH là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [6]. NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường nói chung và trong hệ thống NH trung gian nói riêng.
Đề cập về khái niệm NHTM, có nhiều các phát biểu khác nhau: Ở Pháp: NHTM là những doanh nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ tín dụng, chứng khoán hay dịch vụ tài chính [20]. Ở Mỹ: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiêp dịch vụ tài chính [20]. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở chuyên nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư [20]. Ở Thổ Nhĩ Kì: NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác [20].
Ở Việt Nam: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của KH với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán [20]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Luật NH của nhiều nước trên thế giới đều cho rằng: NHTM là những tổ chức tài chính trung gian với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hinh thức khác, và sử dụng nguồn lực đó trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Qua các khái niệm trên ta rút ra nhận xét sau: NHTM là loại NH giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức KT và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ NH cho các đối tượng trên. Có thể nói rằng, NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong XH sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức KT, cá nhân để phát triển KT XH. Phân loại NHTM: - Dựa vào hình thức sở hữu có thể phân loại gồm: NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh, NHTM 100% vốn nước ngoài, chi nhánh NHTM nước ngoài tại Việt Nam. - Dựa vào chiến lược kinh doanh có thể phân thành: + NH bán buôn: là NH tập trung cung cấp một vài sản phẩm cho KH, số lượng sản phẩm không lớn nhưng giá trị của từng sản phẩm là rất lớn. KH của NH chủ yếu là các công ty, xí nghiệp có quy mô lớn, các tập đoàn KT, các tổng công ty.
+ NH bán lẻ: là NH chú trọng đa dạng hóa các sản phẩm và mở rộng kênh phân phối. Giá trị của từng sản phẩm không lớn nhưng số lượng KH sử dụng sản phẩm dịch vụ là rất lớn. Hoạt động chủ yếu là huy động vốn từ mọi thành phần KT và cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng và các dự án sản xuất kinh doanh với quy mô vừa và nhỏ. Phát triển các dịch vụ NH hiện đại ứng dụng công nghệ cao với nhiều tiện ích.
+ NH phát triển song hành vừa bán buôn, vừa bán lẻ: là NH chú trọng phát triển cả hoạt động bán buôn và bán lẻ. NH nhắm đến tất cả đối tượng là tổ chức, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn, các KHCN với các sản phẩm, dịch vụ không giới hạn về giá trị giao dịch. Các hoạt động của NHTM 1. Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là hoạt động cơ bản của NHTM.
Các NHTM được phép sử dụng tất cả những công cụ và phương pháp khác nhau để huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trong nền KT để tạo lập nguồn vốn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền KT. NHTM huy động vốn dưới các hình thức sau: - Nhận tiền gửi (Nhận ký thác) + Nhận tiền gửi của các tổ chức KT, các tổ chức đoàn thể XH và cá nhân bằng VNĐ và bằng ngoại tệ. + Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng bằng VNĐ và bằng ngoại tệ. + Các hình thức huy động khác.
- Phát hành chứng từ có giá để huy động vốn. - Vay các tổ chức tín dụng khác. Hoạt động tín dụng - Cho vay trực tiếp (Direct Loans) + Theo tính chất: y Cho vay sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp và tổ chức KT. y Cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức đoàn thể XH.
+ Theo thời hạn: y Cho vay ngắn hạn với thời hạn từ một năm trở xuống. y Cho vay trung hạn với thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. y Cho vay dài hạn với thời hạn trên 5 năm. - Cho vay gián tiếp (Indirect Loans) + Chiết khấu chứng từ có giá (Discounting) + Bao thanh toán (Factoring) - Hình thức cho vay khác + Thấu chi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 + Cho vay thông qua phát hành thẻ Tín dụng - Bảo lãnh NH (Bank Guarantee) 1.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Thu phát tiền mặt, vận chuyển, bảo quản.
- Cung ứng các phương tiện thanh toán. - Thực hiện dịch vụ thanh toán và chuyển tiền quốc tế. - Bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá. Các hoạt động khác - Đầu tư trực tiếp (Direct Investment) + Góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức KT trong nước.
+ Góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng trong nước. + Góp vốn, mua cổ phần, liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài (khi được NHNN chấp thuận). + Thành lập công ty trực thuộc. - Đầu tư gián tiếp (Indirect Investment) + Đầu tư vào trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW.
+ Đầu tư vào trái phiếu công ty và chứng từ có giá khác. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Khái niệm dịch vụ NH bán lẻ [8] Bán buôn và bán lẻ Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, bán buôn là hình thức mua bán hàng hoá thông qua các trung gian - đại lý (có thể có nhiều cấp trung gian, đại lý, ví dụ đại lý cấp I, đại lý cấp II,…) để bán với khối lượng lớn mà không bán nhỏ lẻ, trực tiếp cho người sử dụng, tiêu dùng; Ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực tiếp bán cho người mua là người sử dụng, tiêu dùng. Tuy nhiên, đối với thị trường tín dụng, ở các nước trên thế giới hiện nay có hai quan niệm và cách phân định khác nhau về bán buôn, bán lẻ tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thứ nhất, bán buôn tín dụng được hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên NH) hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác (các NH thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác), không tính đến quy mô giá trị khoản vay.
Trong khi đó, bán lẻ tín dụng bao gồm những khoản cho trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau. Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt theo quy mô lớn hay nhỏ mà chủ yếu được xác định bởi là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tượng khác; Cách hiểu thứ hai, bán buôn tín dụng là hình thức cho vay bao gồm các khoản vay thuộc hình thức thứ nhất, cộng thêm những khoản cho vay có giá trị lớn hơn một quy mô nào đó tùy theo quy định cụ thể của từng nước. Ví dụ, ở nước Anh, những khoản vay có giá trị từ 50.000 bảng Anh trở lên được coi là khoản cho vay bán buôn; Bán lẻ tín dụng theo cách hiểu thứ hai này bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng là các cá nhân, hộ gia đình và DNVVN, cộng thêm các khoản cho vay đối với những công ty và doanh nghiệp lớn (doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn KT…) nhưng có quy mô nhỏ hơn một mức giá trị nào đấy. Ví dụ ở nước Anh là các khoản vay có giá trị dưới 50.
Những tiêu chí phân định giữa bán buôn, bán lẻ nêu trên chỉ là tương đối và không mang tính phổ biến đối với mọi quốc gia và không phải là bất biến qua mọi giai đoạn phát triển mà chủ yếu tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản lý ở từng nước. Ngày nay trong hoạt động kinh doanh NH, các sản phẩm dịch vụ NH không chỉ có tín dụng, mà còn bao gồm nhiều sản phẩm phi tín dụng khác như thanh toán, quản lý đầu tư ủy thác. Số lượng các sản phẩm dịch vụ NH nói chung là rất lớn (theo một số nhà nghiên cứu, trên thế giới có khoảng 6.000, còn ở Việt Nam hiện có khoảng 200 - 300 sản phẩm). Do vậy, việc đưa ra một số tiêu chí cụ thể để có thể xác định chính xác đối với mọi loại hình sản phẩm cụ thể, những sản phẩm nào thuộc bán buôn, những khoản nào thuộc bán lẻ là điều rất khó.
Tuy nhiên, chúng ta có thể dựa trên đặc trưng chung và tiêu biểu, tương tự như bán buôn, bán lẻ các loại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hàng hoá thông thường khác để nhận diện và phân loại.