Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. - Chương 2: Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người lao động nhập cư khu vực kinh tế phi nhà nước. - Chương 3: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người lao động nhập cư khu vực kinh tế phi nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh. - Chương 4: Giải pháp nâng cao khả năng sử dụng dịch vụ công tác xã hội của người lao động nhập cư khu vực kinh tế phi nhà nước và thực nghiệm biện pháp tăng cường hoạt động truyền thông.
13 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Các nghiên cứu về thực trạng và xu hướng di cư và nhập cư khu vực kinh tế phi nhà nước Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều nghiên cứu liên quan về di cư và nhập cư trong khu vực châu Á điển hình như của Skeldon (1992); Huguest (1995); Pongsapich (1995); Martin (1996); Hayase (2003); các quốc gia châu Á nhìn chung là xuất khẩu lao động theo hợp đồng lao động. Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ, đối với Singapore và Brunei là những nước nhập khẩu lao động, Malaysia và Thái Lan là nước vừa nhập và vừa xuất khẩu lao động [41].
Nghiên cứu của Rolf Jensen và cộng sự (2009), với mẫu khảo sát hơn 1.700 người trong hai năm 2000 và 2003 đã chỉ ra di cư đã có sự thay đổi và diễn ra phức tạp hơn bằng con đường chính thức và phi chính thức. Đối với những người di cư phi chính thức thì mạng lưới xã hội như người thân trong gia đình, người quen tại địa phương của NLĐNC sẽ giúp họ ổn định cuộc sống nhanh hơn. Qua kết nghiên cứu định tính cho thấy, bán hàng rong được xem là một nghề của nữ NLĐNC. Đây là một trong những vấn đề gợi mở cho luận án khi hỗ trợ NLĐNC hòa nhập cộng đồng tại nơi đến qua mạng lưới xã hội [84].
Nghiên cứu của Huang Ping (2004), đã chỉ ra rằng đô thị vẫn còn định kiến với NLĐNC, họ gặp phải sự kỳ thị và thiếu sự khoan dung. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất cần có nghiên cứu sâu rộng hơn để xây dựng chính sách và cần phải chú tâm hơn vai trò của việc di cư đối với sự phát triển của khu vực cư ngụ ban đầu [93]. Nghiên cứu của Guest (2004), đã chỉ ra xu hướng và các mô hình di dân quốc tế ở Đông Nam Á, phụ nữ ngày càng di chuyển nhiều hơn và di dân tạm thời tiếp tục là một thành tố quan trọng của dòng di dân. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, động cơ kinh tế của việc di dân chiếm ưu thế trong các quyết định di trú.
Nghiên cứu cũng chỉ ra, nhóm người này còn thiếu khung pháp lý hiện hữu để bảo vệ đầy đủ trước nguy cơ có thể sống trong điều kiện nghèo khổ và sức khỏe bị đe dọa [43]. Nghiên cứu của VanLandingham (2004) cho biết, NLĐNC đều gặp bất lợi hơn so với người bản địa trên sáu lĩnh vực sức khỏe, bao gồm: sinh lý, tâm lý, tình cảm, chức năng vận động, kiến thức và quan niệm về sức khỏe nói chung. Ngoài lĩnh vực về sức khỏe thì nghiên cứu chưa đề cập đến các lĩnh vực khác mà NLĐNC khu vực KTPNN phải đối mặt tại nơi đến [110]. 14 Nghiên cứu của Veronique Marx và Katherine Fleischer (2010), đã chỉ ra rằng những người di cư không nằm trong các chương trình di cư của Chính phủ.
Các phân tích trong tài liệu chỉ ra các xu hướng nổi trội của di cư trong nước, tác động của nó tới sự phát triển kinh tế xã hội, những khó khăn và thách thức mà người di cư gặp phải trong quá trình di cư. Mặt khác, sự tác động này sẽ phụ thuộc vào các môi trường chính trị, kinh tế và xã hội cùng với hành vi và nguồn lực của cá nhân người di cư và gia đình của họ. Nghiên cứu đã gợi mở cho luận án chú ý về khả năng huy động và kết nối nguồn lực để hỗ trợ cho NLĐNC khu vực KTPNN [133]. Nghiên cứu của Catherine Locke và Heather Xiaoquan Zhang (2012), tác giả tập trung nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc vì hai nước này đang trải qua quá trình chuyển đổi kinh tế.
Điều này đã kéo theo sự gia tăng mạnh về nhiều loại hình di dân “mới” và chỉ ra di dân và các mối liên hệ của nó với tái sản xuất có sự phân tầng do những điều kiện cư trú và quyền lợi xã hội có liên quan. Chính điều này sẽ là rào cản lớn mà NLĐNC bị từ chối đến những quyền liên quan đến chương trình, chính sách an sinh xã hội của họ tại nơi đến. Điều này sẽ giúp cho hướng nghiên cứu của luận án chú ý khi đề cập cách tiếp cận về quyền trong quá trình lập kế hoạch hỗ trợ NLĐNC [20]. Nghiên cứu của Piper (2012), cho thấy sự khác biệt của người di cư giữa nam và nữ trên tất cả các lĩnh vực: chính sách, vị trí trong thị trường lao động, kinh nghiệm và quyền lợi.
Những sự thay đổi đã dần dần trở nên rõ rệt hơn không chỉ về số lượng nữ di dân ngày một tăng mà còn về những hình thức di cư của họ. Đây là những gợi mở để luận án xem xét có sự khác biệt gì giữa nam và nữ trong quá trình di cư [85]. Nghiên cứu của China Labour Bulletin - CLB (2016), đã chỉ ra những vấn đề đối mặt của công nhân nhập cư là con của họ phải bỏ lại ở các vùng nông thôn, còn những đứa trẻ đi cùng cha mẹ đến các thành phố bị phân biệt và hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục và y tế. Về lý thuyết các trường công lập sẵn sàng nhận trẻ em di cư vào học, trong lĩnh vực sức khỏe chính quyền đã thiết kế các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có giá cả phải chăng hơn cho NLĐNC.
Trên thực tế ở Trung Quốc, còn nhiều trở ngại được đặt ra để hạn chế cơ hội học tập và phải trả chi phí khám chữa bệnh cao hơn nhiều với thu nhập của cha mẹ. Bài viết này mới chỉ đề cập đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe và y tế, ngoài ra còn nhiều dịch vụ khác đối với NLĐNC chưa được đề cập [148]. Nghiên cứu của Dheer và Lenartowicz (2017), cho thấy NLĐNC và con cái của họ phải đối mặt các rào cản về chính sách cũng như một số vấn đề khác tại nơi đến. Việc thiết lập một nghề nghiệp có tầm quan trọng đáng kể, vì nó không chỉ cung cấp ổn định kinh tế cho những các cá nhân, nhưng cũng ảnh hưởng đến tâm lý, hạnh phúc gia đình và thích ứng văn hóa xã hội của họ (Bhagat & London, 1999; Yakushko, 15 Backhaus, Watson & Gonzalez, 2008).
Nghiên cứu cũng làm sáng tỏ tính linh hoạt xã hội ngày càng được mở rộng và ảnh hưởng đến định hướng cấu trúc xã hội và bản sắc nghề nghiệp của người di dân trong quá trình di cư này. Đây là những khoảng trống về mặt chính sách đối với họ và cần có những nghiên cứu sâu hơn về chính sách để hỗ trợ đối với NLĐNC khu vực KTPNN tại nơi đến [161]. Các nghiên cứu về khả năng tiếp cận chính sách an sinh xã hội của người lao động nhập cư khu vực kinh tế phi nhà nước Nghiên cứu của Marx và Fleischer (2010), cho thấy các quyền đã được thừa nhận trong các chuẩn mực quốc tế và quy định trong khung pháp lý của Việt Nam. Tuy nhiên, NLĐNC gặp những khó khăn thách thức gặp phải trong quá trình di cư bởi do thực trạng đăng ký hộ khẩu của họ sẽ ảnh hưởng đến việc thụ hưởng chính sách an sinh xã hội.
Thực tế hiện nay cho thấy, việc đăng ký hộ khẩu được cải thiện theo hướng thuận lợi hơn rất nhiều đối với NLĐNC. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận NLĐNC phải sử dụng các DVXH tư nhân đắt đỏ, chính điều này làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng và làm tình trạng nghèo đói đô thị tăng lên. NLĐNC đã bị loại trừ về mặt xã hội theo những phương cách nhất định và còn khoảng trống về chính sách đối với họ. Vì vậy, cần có những nghiên cứu bổ sung thêm về các dịch vụ khác nhằm nâng cao lợi ích và quyền của họ trong xã hội đô thị [166].
Nghiên cứu của Locke và Zhang (2012), đã chỉ ra rằng ở Việt Nam và Trung Quốc di dân và các mối liên hệ của nó với tái sản xuất có sự phân tầng do những điều kiện cư trú và quyền lợi xã hội có liên quan. Hệ thống đăng ký hộ khẩu đang hạn chế NLĐNC tiếp cận DVXH tại nơi họ đến (GSO 2005:10) [20]. Mặc dù khoảng cách về tiếp cận DVXH đối với NLĐNC đã bớt căng thẳng hơn so với các báo cáo trước đây, song những NLĐNC chưa có hộ khẩu ở đô thị vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công tại nơi đến. Bài viết gợi mở đến những yếu tố ảnh hưởng khả năng tiếp cận các chương trình, chính sách ASXH của NLĐNC từ nông thôn ra đô thị cũng như giảm thiểu những rủi ro, những tổn thương và có lẽ cả những khoảng cách gắn liền với việc xây dựng và quản lý đời sống gia đình cho NLĐNC.
Nghiên cứu của tác giả Pookunju (2012), đã chỉ ra điều kiện sống, làm việc của người dân di cư đến Gurgaon, Ấn Độ và đã phác thảo bức tranh khá ảm đạm về hoàn cảnh sống hiện tại của những người di cư về những khó khăn đang đối mặt. Hầu hết người di cư sống ở các khu công nghiệp thiếu tất cả tiện nghi đô thị cần thiết như nước sạch, hệ thống thoát nước, giao thông vận tải… và họ cũng không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế… điều này gây cản trở cho sự phát triển của họ tại nơi đến [94]. 16 Nghiên cứu của Locke và Zhang (2012), đã chỉ ra ở Trung Quốc đại đa số NLĐNC đều “không đăng ký” và phần lớn trong số họ bị từ chối những quyền liên quan đến các chương trình ASXH với lý do chế độ an sinh xã hội của NLĐNC đã được hưởng tại quê nhà. Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Trung Quốc nhằm ngăn cản sự di cư từ nông thôn ra thành thị.
Những khó khăn mang tính thể chế này gây trở ngại lớn đối với những NLĐNC đang cố gắng xây dựng và duy trì hôn nhân của họ, mang thai và nuôi con không được hưởng các chương trình, chsinh sách tại nơi nhập cư.