Chương 1: Cơ sở lý luận về báo điện tử và vấn đề người lao động nhập cư Chương 2: Thực trạng thông tin của báo điện tử với vấn đề người lao động nhập cư hiện nay Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng báo điện tử với vấn đề người lao động nhập cư hiện nay 8 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO ĐIỆN TỬ VÀ VẤN ĐỀ NGƢỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƢ 1. Hệ thống khái niệm về di cƣ và lao động nhập cƣ 1. Khái niệm “di động xã hội” Cùng quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, sự tăng trưởng kinh tế luôn kèm theo sự thay đổi dân cư. Đây là một quá trình mang tính quy luật.
Quá trình này chịu ảnh hưởng của ba nhân tố: sinh, tử và di dân. Sự di chuyển dân cư là một yếu tố động, nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chi phối khác như những nhân tố kinh tế, xã hội và văn hóa.gây ra những tác động khác nhau lên quá trình này. Đây là một hiện tượng xã hội phức tạp. Lý do là đối với mỗi cá nhân luôn chịu sự tác động của một quy luật sống bất di bất dịch của tự nhiên: sinh ra - bước chân vào xã hội và chết đi ra khỏi xã hội đó hay di chuyển sang xã hội khác dưới những hình thức ra đi khác nhau.
Trong quá trình hoạt động sống có những cá nhân luôn di chuyển nơi sinh sống, cư trú, hoạt động lao động của mình. Sự di chuyển của những cá nhân này không chỉ tạo ra mặt “động” của quá trình dân số mà nó cũng đem lại những hậu quả kinh tế-xã hội nhất định, có những hậu quả đôi khi khó lường trước được. Sự di chuyển dân cư luôn là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và là một hiện tượng nảy sinh mang tính phổ biến trong mọi xã hội. Mỗi dân tộc, trong tiến trình lịch sử đều gắn liền với quá trình di dân được xác định.
Điều đó đúng với mọi quốc gia, mọi dân tộc. Hoạt động di chuyển dân cư đã từng tồn tại suốt nhiều thế kỷ và luôn gắn liền với một hoàn cảnh lịch sử nhất định. Từ xa xưa, trong mỗi giai đoạn lịch sử, hoạt động này diễn ra với những đặc điểm riêng của nó, chẳng hạn như sự di chuyển dân cư trong lịch sử luôn gắn liền với sự mở mang bờ cõi, đất đai., và hệ quả là tạo nên nét đặc thù riêng cho mỗi xã hội cụ thể. Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cũng cũng chứng tỏ điều đó, nhất là đối với tộc người Việt trong vòng hơn mười thế kỷ gần đây [29].
Nhận thức đầy đủ về sự chuyển cư trong trong quá khứ cũng như hiện tại là một nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển tri thức khoa học. Nhưng vấn đề đặt ra 9 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam là phải nhận thức thật đầy đủ, khoa học về quá trình di cư đang diễn ra xã hội Việt Nam hiện đại, chẳng hạn như: Tình trạng di cư hiện nay ra sao? Di dân sẽ là biến đổi cấu trúc (cơ cấu) dân số-xã hội như thế nào? Những gì là nguyên nhân, là các yếu tố, là những điều kiện. gây tác động, ảnh hưởng đến sự di chuyển dân cư như vậy? Vai trò của quá trình chuyển cư như vậy đối với công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước và phát triển mọi mặt khác nhau của đời sống xã hội nói chung và của từng địa phương cụ thể nói riêng? Hậu quả của nó có ảnh hưởng gì đến sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa của từng vùng, từng dân tộc? Có sự thay đổi gì về lối sống của họ trong những điều kiện hoạt động sống mới? Những mối quan hệ xã hội mới được định hình như thế nào? Hậu quả môi trường nơi họ mới chuyển đến ra sao? Sự lan truyền văn hóa, lối sống cũng như sự “giao thoa” văn hóa giữa những nhóm xã hội “đi”, “đến" như thế nào?. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra khi quan tâm nghiên cứu hiện tượng xã hội nóng bỏng và bức xúc này.
Trong những năm bắt đầu của thời kỳ đổi mới trở lại đây, ở Việt Nam sự di chuyển dân cư đang diễn ra mạnh mẽ. Những nghiên cứu công bố gần đây cho thấy chuyển cư trong nông thôn là một hiện tượng tất yếu. Vấn đề đặt ra là cần xem di chuyển dân cư như hiện tượng khách quan như những hiện tượng xã hội khác đã và đang nảy sinh cần được tìm hiểu, nghiên cứu một cách khoa học, nhằm xác định đúng những quy luật và tính quy luật xã hội tác động, chi phối nó. Từ đó có sự nhận thức đúng về hiện tượng xã hội này và đề ra những chính sách, những giải pháp xã hội đúng đắn điều tiết chính quá trình chuyển cư sao cho hợp lý, phù hợp với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, cũng như quá trình hòa nhập vào khu vực và quốc tế hiện nay.
Một lý do khác cũng cần xem xét vấn đề chuyển cư ở chỗ trong quá trình di chuyển, người di cư sẽ di chuyển đến đâu để sinh sống, những nhân tố nào tác động lôi kéo họ ra khỏi mảnh đất quê hương, “nơi chôn rau, cắt rốn của họ”. Điều cần nghiên cứu xem xét sâu sắc thêm ở đây là nhận thức truyền thống về nơi cư trú của những người trong dòng di cư này đã thay đổi như thế nào? Phải chăng đối với 10 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam họ, quê hương bản quán không còn ý nghĩa nặng nề như những người người còn ở lại? Phải chăng cơ chế kinh tế thị trường đã làm cho họ thay đổi những quan niệm truyền thống kiểu như vậy? Một lý do khác cũng cần được đặt ra đó là những yếu tố kinh tế trong hoạt động lao động sản xuất của những người di cư. Từ những năm 1990 cho đến nay, đất nước ta chuyển dần từng bước sang nền kinh tế thị trường, những giá trị xã hội cũng đã ít nhiều thay đổi tầm ảnh hưởng của nó. Bên cạnh những giá trị truyền thống còn lưu giữ trong lòng xã hội, có những giá trị xã hội mới đang “lên ngôi”, gây không ít những ảnh hưởng, tác động đến hành vi, sự lựa chọn của các cá nhân trong xã hội Việt Nam đương đại.
Hệ những giá trị mới, cũ đan xen trong đó phải kể đến những giá trị “trọng sang, trọng giàu, trong vật chất, trọng văn minh, hiện đại. Điều này cho thấy những nhân tố kinh tế sẽ góp phần không nhỏ ảnh hưởng đến sự lựa chọn lý do để di cư. Vì vậy, nghiên cứu những nhân tố kinh tế - xã hội gây tác động, ảnh hưởng đến di chuyển dân cư là cần thiết, bởi vì những nhân tố này sẽ tạo ra những giá trị xã hội (và cũng là những tính quy luật xã hội) tác động đến nhận thức, hành vi của các thành viên trong xã hội Việt Nam. Chẳng hạn như đất đai canh tác, thu nhập, việc làm v., và cả những cơ hội nảy sinh trong quá trình hoạt động kinh tế đều là những nhân tố tác động đến quyết định ra đi, sự lựa chọn nơi di chuyển đến của những người di cư.
Và tự nó, những yếu tố này là những nguyên nhân cụ thể làm nảy sinh và thúc đẩy dòng di cư hiện đại. Khái niệm chung về địa vị xã hội Địa vị (status) xã hội của mỗi chủ thể hành động được xác định như là “sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội”[18], thực chất đó là sự thẩm định của xã hội dành cho một vị trí trong hệ thống xã hội. Sự chuyển đổi địa vị xã hội cư trú của họ tạo ra và là sự biểu hiện của quá trình thay đổi địa vị cư trú-xã hội, và điều đó cho thấy sự di động xã hội của chủ thể hành động đó. Trước hết cần hiểu mỗi cá nhân, nhóm xã hội đều chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống xã hội.
Khi đó, địa vị (status) là khái niệm chỉ một vị trí xã hội 11 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam trong một hệ thống đó mang tính ổn định, gắn liền với một sự mong đợi đặc thù, những quyền và trách nhiệm [2]. Ở mỗi xã hội có một hệ thống những địa vị khác nhau, được xem như là “mạng các địa vị”, và mỗi chủ thể đều có được một địa vị xã hội trong tương quan với chủ thể khác. Khi nghiên cứu về địa vị xã hội, J. Fichter đã chỉ ra những yếu tố cấu thành địa vị xã hội bao gồm: dòng dõi, của cải (dưới hình thức này hay hình thức khác), lợi ích của một chức vụ, trình độ học vấn, tôn giáo, các đặc trưng cá nhân như giới tính, tuổi.[16], kể cả “cơ hội cuộc sống”, cũng như khả năng của cá nhân nắm bắt cơ hội đó, điều mà M.
Weber luôn nhấn mạnh. Theo quan niệm của T.Parsons, hệ thống xã hội như là một hệ thống các cá nhân tương tác với nhau trong một hoàn cảnh mà ít nhất cần có yếu tố vật chất hoặc môi trường, những chủ thể hành động (actors) được khuyến khích theo xu hướng thoả mãn. Mối quan hệ giữa họ và với hoàn cảnh của họ được xác định trong một hệ thống các biểu trưng được cấu trúc và cùng chia sẻ về mặt văn hóa. Ông đã đưa ra quan niệm của mình về phức hợp (complex) địa vị - vai trò với tư cách là sự thống nhất nền tảng của hệ thống xã hội.
Địa vị gán cho một vị trí cấu trúc trong hệ thống xã hội, và vai trò, theo ông, là cái mà người hành động (actor) phải làm ở trong vị trí đó trong quan hệ với những người hành động khác nằm trong mối liên kết (context) và có tầm quan trọng về chức năng đối với hệ thống [40, tr 25]. Như thế, sự phân tầng (stratification) các địa vị xã hội - vai trò xã hội làm thành cấu trúc của xã hội, và nhờ đó có được sự di động xã hội giữa các tầng lớp xã hội. Sự phân tầng xã hội Sự thay đổi này được xác định như là một sự di động xã hội. Các nhà xã hội học coi “sự di động xã hội là sự vận động của cá nhân, đôi khi là nhóm xã hội, giữa những vị trí trong hệ thống tầng lớp xã hội, trong nội bộ xã hội [2],…được cấu trúc theo một cách mà tầng lớp nào đó có quyền lực và có tiền thưởng hơn những người khác”[50].