Chương I: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH 1.1 Khái quát về Quốc hội 1.1 Vị trí pháp lý của Quốc hội Quốc hội Việt Nam không chỉ thực hiện các chức năng về quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước mà Quốc hội còn có vai trò giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước, những nội dung này được quy định trong Điều 69 Hiến pháp năm 2013. “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” [Đ 69, 16]. Quốc hội có vị trí, tính chất pháp lý vô cùng đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị và nó được ghi nhận trong các bản Hiến pháp.
Nghị viện nhân dân khi mới vừa thành lập có vị trí vô cùng đặc biệt bởi chính Nghị viện là cơ quan quyền lực cao nhất để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước, không chỉ đặt ra chính sách pháp luật mà Nghị viện còn có quyền quyết định vấn đề ngân sách, đặc biệt là chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ nước ta ký với nước ngoài. Hiến pháp năm 1959 tên gọi của Nghị viện không còn được ghi nhận, Nghị viện lúc này được thay thế bằng tên gọi Quốc hội. Khi đó, Quốc hội được xác định là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất (Điều 43) và là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp (Điều 44). Đây là một trong những 8 quy định mới được mở rộng về quyền của Quốc hội, với quy định này có thể được xem là một dấu ấn mới, một bước ngoặt mới để dần dần chuyển hóa từ chế độ sắc lệnh sang chế độ đạo luật ở nước ta.
Để chế độ đạo luật hoạt động có hiệu quả, chúng ta cần phải có một bản Hiến pháp quy định càng chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội thì hoạt động của Quốc hội càng mang lại nhiều hiệu quả thiết thực hơn. Vị trí pháp lý của Quốc hội theo Hiến pháp năm 1992 không chỉ được tiếp tục ghi nhận và kế thừa mà nó còn được bổ sung. Lúc này, Quốc hội còn được bổ sung thêm vai trò giám sát tối cao trong mọi hoạt động của nhà nước. Trong bản Hiến pháp mới này, Quốc hội đã thiết lập lại cơ cấu tổ chức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó có sự phân công, phân nhiệm giữa các quyền lực với nhau trong hệ thống chính trị nước ta, cụ thể là giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Đến bản Hiến pháp năm 2013, không chỉ kế thừa các nội dung về quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước mà còn bổ sung thêm vai trò kiểm soát quyền lực của cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực thi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sau khi phân tích các vấn đề trên, cho ta thấy Quốc hội Việt Nam là một cơ quan đặc biệt trong hệ thống chính trị, có vị trí pháp lý không giống bất kỳ cơ quan nào.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội Theo quy định tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ Quốc hội có 3 chức năng chính đó là thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát. Chức năng lập hiến, lập pháp 9 Quyền lập hiến, quyền lập pháp xuất phát từ vị trí tính chất của Quốc hội. Vì vậy, ngoài Quốc hội thì không có bất kỳ cơ quan, tổ chức nhà nước trong hệ thống chính trị có quyền ban hành pháp luật.
Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước khác ban hành không được trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp và luật. Tại khoản 1 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội có quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật và không còn ghi nhận quyền “quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh”. Đây là điều khoản quan trọng nhất trong quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Điểm khác biệt giữa Quốc hội Việt Nam với Quốc hội, Nghị viện ở một số nước trên thế giới đó là Quốc hội nước ta có chức năng lập hiến.
Nhưng nhiệm vụ cơ bản của Quốc hội vẫn là lập pháp – làm luật, chương trình xây dựng luật và pháp lệnh là một phần trong việc thực hiện “làm luật và sửa đổi luật” của Quốc hội. Chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước bởi Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Về kinh tế, Quốc hội quyết định các vấn đề có liên quan đến chính sách tiền tệ, phân bổ ngân sách trung ương cũng như phê chuẩn quyết toán ngân sách. Về chính trị, Quốc hội quyết định những vấn đề chiến tranh, hòa bình hay ban hành tình trạng khẩn cấp.
Ngoài ra, Quốc hội còn có nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng đó là quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các Điều ước quốc tế. 10 Theo Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội còn quyết định mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh. Theo Điều 15 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020) khi thực hiện quyền này, Quốc hội sẽ ban hành văn bản dưới dạng Luật, Nghị quyết. Chức năng giám sát Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với mọi hoạt động của nhà nước và vai trò giám sát của Quốc hội có ý nghĩa rất lớn.
Bởi, thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội phát hiện ra những cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi sai trái, vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, nhà nước. Ngoài ra, thông qua các hoạt động giám sát còn giúp cho việc thi hành Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm minh và thống nhất. Hoạt động giám sát của Quốc hội nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động một cách trơn tru hơn, nhịp nhàng hơn. Chức năng giám sát là một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội, một khi thực hiện tốt chức năng này thì việc kiểm soát quyền lực của nhà nước ngày càng được nâng cao, tránh được những hành vi quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch của những cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khi làm nhiệm vụ.
Chức năng giám sát được quy định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam và nó tiếp tục kế thừa trong các bản Hiến pháp tiếp theo và nó dần hoàn thiện để phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta. Để cụ thể hóa quyền giám sát hiến định của Quốc hội, Quốc hội đã ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. 11 Quốc hội Việt Nam thực hiện chức năng giám sát thông qua nhiều hình thức khác nhau như nghe báo cáo của các cơ quan nhà nước tại các kỳ họp; các đại biểu có thể thực hiện quyền chất vấn của mình tại kỳ họp hoặc ngoài kỳ họp, thực hiện hoạt động lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm và cuối cùng các ĐBQH thực hiện chức năng giám sát thông qua các đoàn giám sát.3 Cơ cấu tổ chức của Quốc hội (sơ đồ) Chủ tịch Quốc hội (Chủ tịch ủy ban TVQH; Ủy viên Hội đồng quốc phòng – an ninh) Phó Chủ tịch Quốc hội (Phó Chủ tịch ủy ban TVQH) Các ủy ban Thư ký Hội đồng Viện nghiên Các ban trực thuộc Quốc hội dân tộc cứu lập pháp trực thuộc ĐBQH Cử tri Mối quan hệ chỉ đạo Mối quan hệ chất vấn Nhận xét: Trong sơ đồ tổ chức của Quốc hội này, không có sự hiện diện của Đoàn ĐBQH mà chỉ có sự hiện diện của ĐBQB. Bởi các ĐBQH có thể thông qua hoạt động của Đoàn ĐBQH để tiến hành những công việc nhằm thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu, đồng thời cũng có điều kiện để tăng cường, 12 mở rộng mối quan hệ gắn bó thường xuyên với cử tri, Nhân dân nơi đại biểu ứng cử.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH Thuật ngữ địa vị pháp lý theo từ điển luật học thì địa vị pháp lý chính là vị trí của chủ thể nào đó được xây dựng dựa trên các mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác theo quy định của pháp luật.
Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt giữa chủ thể này với chủ thể khác và có thể xem xét vị trí, tầm quan trọng của chủ thể trong các mối quan hệ của pháp luật. Địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH chính là quyền và nghĩa vụ của Đoàn ĐBQH đã được Hiến pháp, luật định. Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội và những quy định trong quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH thì đoàn ĐBQH là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở nước ta. Đoàn ĐBQH được tạo thành từ các ĐBQH được các cử tri bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn ĐBQH Đoàn ĐBQH có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau: Thứ nhất, Đoàn ĐBQH khi tiến hành tiếp xúc cử tri, phải có sự phối kết hợp giữa các cơ quan của Ủy ban Thường trực MTTQ, Thường trực HĐND, UBND ở các cấp chính quyền, địa phương.
Thứ hai, đối với hoạt động tiếp công dân thì Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân và chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị đó đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết; ngoài ra, Đoàn ĐBQH còn phải theo dõi, đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của 13 công dân.