Địa vị pháp lý của người không quốc tịch và thực trạng tại việt nam trong việc bảo vệ người không quốc tịch

Nghiên cứu địa vị pháp lý của người không quốc tịch tại Việt Nam. Phân tích thực trạng bảo vệ quyền lợi của họ theo luật pháp quốc tế và Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình dự thi

2022-2023

90
18
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ NHẬP QUỐC TỊCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH

1.1. Tổng quan về người không quốc tịch

1.2. Khái niệm người không quốc tịch

1.3. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng cá nhân không có quốc tịch

1.4. Pháp luật về nhập quốc tịch đối với người không quốc tịch

1.5. Quyền có quốc tịch của người không quốc tịch

1.6. Điều kiện nhập quốc tịch đối với người không quốc tịch

1.7. Thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Một số kiến nghị hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam

1.8. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUYỀN CỦA NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH VÀ NGHĨA VỤ ĐỐI XỬ CỦA QUỐC GIA

2.1. Quyền của người không quốc tịch

2.1.1. Trên thế giới

2.1.2. Tại Việt Nam

2.2. Nghĩa vụ đối xử của quốc gia đối với người không quốc tịch

2.2.1. Quy định pháp luật về nghĩa vụ đối xử của quốc gia

2.2.2. Nghĩa vụ đối xử của quốc gia đối với người không quốc tịch

2.2.3. Kiến nghị cho Việt Nam

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BẢO HỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH

3.1. Những bất lợi thực tế của người không quốc tịch hiện nay phải gánh chịu

3.2. Thực trạng bảo hộ người không quốc tịch hiện nay. Cơ sở lý luận về bảo hộ người không quốc tịch

3.3. Áp dụng quy định pháp luật về người không quốc tịch

3.4. Hành động của quốc gia trong vấn đề bảo hộ người không quốc tịch và kiến nghị giải pháp cho Việt Nam

3.5. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Người Không Quốc Tịch Khái Niệm Thực Trạng

Mỗi quốc gia đều trải qua tiến trình lịch sử từ chiến tranh đến xây dựng và phát triển. Quyền con người, đặc biệt là quyền có quốc tịch, là vấn đề then chốt. Quốc tịch thể hiện mối quan hệ pháp lý bền vững giữa Nhà nước và cá nhân, xác định tư cách công dân, từ đó phát sinh quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên, nhiều quốc gia phải đối mặt với tình trạng người không quốc tịch. Pháp luật quốc tế đã ban hành các công ước như Công ước 1954 và 1961 để hạn chế tình trạng này. Dù có những ảnh hưởng tích cực, cả cộng đồng quốc tế và Việt Nam vẫn còn một số lượng đáng kể NNKT, đòi hỏi nghiên cứu và giải pháp hiệu quả.

1.1. Định nghĩa Người Không Quốc Tịch Apatride theo luật pháp

Quyền có quốc tịch là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế. Dù pháp luật ngày càng hoàn thiện, tình trạng người không quốc tịch vẫn là vấn đề nhức nhối, đặc biệt với các nhóm yếu thế. Theo Công ước 1954 và Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, người không quốc tịch là người không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào. Thuật ngữ "statelessness" cũng được sử dụng để chỉ tình trạng này. Việc xác định rõ định nghĩa là bước đầu tiên để đảm bảo quyền của người không quốc tịch.

1.2. Các Nguyên Nhân Dẫn Đến Tình Trạng Không Quốc Tịch Phổ Biến

Tình trạng không quốc tịch phát sinh do nhiều nguyên nhân, có thể do ý chí cá nhân hoặc do các yếu tố khách quan. Một người có thể trở thành NNKT khi mất quốc tịch cũ nhưng chưa nhập quốc tịch mới. Việc thôi quốc tịch để kết hôn với người nước ngoài là một ví dụ. Hoặc, việc bị tước quốc tịch do vi phạm pháp luật nghiêm trọng cũng dẫn đến tình trạng này. Ngoài ra, các vấn đề như xung đột pháp luật, chuyển giao lãnh thổ cũng góp phần làm gia tăng số lượng người không có quốc tịch.

II. Quyền Nhập Quốc Tịch Hướng Dẫn Điều Kiện Thực Tiễn VN

Quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản của con người, được quy định trong nhiều điều ước quốc tế. Việc nhập quốc tịch là một giải pháp quan trọng để chấm dứt tình trạng không quốc tịch. Pháp luật quốc tế và quốc gia đều có những quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Việc nghiên cứu các điều kiện và thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch là cần thiết để đảm bảo quyền lợi của họ.

2.1. Quyền Được Nhập Tịch Của Người Không Quốc Tịch Tổng Quan

Pháp luật quốc tế công nhận quyền được nhập tịch của người không quốc tịch. Công ước 1954 và các văn kiện khác khẳng định nguyên tắc không phân biệt đối xử trong việc xem xét hồ sơ nhập tịch. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có quyền quy định các điều kiện cụ thể. Việc hiểu rõ các quy định này giúp người không quốc tịch có thể thực hiện quyền của mình một cách hiệu quả.

2.2. Điều Kiện Nhập Quốc Tịch Việt Nam Cho NNKT Quy Định Chi Tiết

Luật Quốc tịch Việt Nam quy định các điều kiện cụ thể để người không quốc tịch có thể nhập quốc tịch. Các điều kiện này liên quan đến thời gian cư trú, khả năng tài chính, kiến thức pháp luật và tiếng Việt. Quá trình xét duyệt hồ sơ nhập quốc tịch đòi hỏi sự cẩn trọng và khách quan để đảm bảo quyền lợi của người xin nhập tịch. Cần có sự minh bạch và dễ tiếp cận thông tin về các điều kiện này.

2.3. Thực Tiễn Nhập Tịch tại VN Bất Cập Pháp Lý Kiến Nghị

Thực tiễn áp dụng pháp luật về nhập quốc tịch cho người không quốc tịch tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Thủ tục hành chính phức tạp, thiếu hướng dẫn cụ thể và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa hiệu quả. Cần có những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người không có quốc tịch được nhập quốc tịch Việt Nam.

III. Quyền Của Người Không Quốc Tịch Giải Mã Quyền Lợi Tại VN

Việc xác định rõ quyền của người không quốc tịch là yếu tố then chốt để bảo vệ họ. NNKT không được hưởng đầy đủ các quyền như công dân, nhưng vẫn có những quyền cơ bản cần được tôn trọng và bảo đảm. Nghiên cứu này tập trung làm rõ những quyền này, bao gồm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội mà người không quốc tịch được hưởng tại Việt Nam.

3.1. Các Quyền Cơ Bản Của NNKT Phân Loại Quyền Dân Sự Chính Trị

Người không quốc tịch có những quyền cơ bản cần được tôn trọng. Quyền về dân sự bao gồm: quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Quyền về chính trị còn hạn chế. Việc phân loại quyền giúp xác định rõ phạm vi bảo vệ và trách nhiệm của Nhà nước.

3.2. Quyền Kinh Tế Văn Hóa Xã Hội Của Người Không Quốc Tịch tại VN

Các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội của người không quốc tịch tại Việt Nam bao gồm quyền được tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và các dịch vụ xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này còn gặp nhiều khó khăn do thiếu các quy định pháp luật cụ thể và sự phân biệt đối xử. Cần có những chính sách hỗ trợ để đảm bảo người không quốc tịch có thể hưởng thụ các quyền này một cách đầy đủ.

IV. Nghĩa Vụ Đối Xử Của Quốc Gia Hướng Dẫn VN Bảo Vệ NNKT

Bên cạnh việc bảo đảm quyền, quốc gia có nghĩa vụ đối xử nhân đạo với người không quốc tịch trên lãnh thổ của mình. Nghĩa vụ đối xử bao gồm việc tôn trọng nhân phẩm, bảo vệ khỏi phân biệt đối xử và tạo điều kiện để họ hòa nhập xã hội. Việc thực hiện tốt nghĩa vụ đối xử là thước đo nhân văn của một quốc gia.

4.1. Quy Định Pháp Luật Về Nghĩa Vụ Đối Xử Của VN Với NNKT

Pháp luật Việt Nam có những quy định về nghĩa vụ đối xử của Nhà nước đối với người không quốc tịch, thể hiện cam kết bảo vệ quyền con người. Các quy định này bao gồm việc đảm bảo các quyền cơ bản và không phân biệt đối xử. Cần rà soát và hoàn thiện các quy định này để đảm bảo tính hiệu quả và khả thi.

4.2. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đối Xử Với NNKT tại Việt Nam

Để nâng cao chất lượng đối xử với người không quốc tịch tại Việt Nam, cần có những giải pháp đồng bộ như: Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng; Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng; Tăng cường hợp tác quốc tế.

V. Bảo Hộ Người Không Quốc Tịch Giải Pháp Cho Việt Nam

Bảo hộ người không quốc tịch là một vấn đề cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. Người không quốc tịch thường phải đối mặt với nhiều khó khăn và bất lợi, do đó cần được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ. Nghiên cứu này đề xuất các giải pháp cụ thể để tăng cường bảo hộ cho NNKT tại Việt Nam.

5.1. Thực Trạng Bảo Hộ NNKT Cơ Sở Lý Luận Quan Trọng

Thực trạng bảo hộ người không quốc tịch hiện nay còn nhiều hạn chế. Việc thiếu các quy định pháp luật cụ thể, nguồn lực hạn chế và sự phối hợp chưa hiệu quả là những thách thức lớn. Cơ sở lý luận về bảo hộ dựa trên các nguyên tắc nhân đạo, quyền con người và nghĩa vụ của Nhà nước.

5.2. Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Bảo Hộ NNKT Bài Học Cho VN

Nhiều quốc gia trên thế giới đã có những kinh nghiệm thành công trong việc bảo hộ người không quốc tịch. Việc học hỏi và áp dụng những kinh nghiệm này một cách sáng tạo sẽ giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả bảo hộ và đảm bảo quyền lợi cho người không có quốc tịch.

5.3. Giải Pháp Pháp Lý Thực Tiễn Để Bảo Hộ NNKT Tại VN

Để nâng cao hiệu quả bảo hộ cho người không quốc tịch tại Việt Nam, cần có những giải pháp pháp lý và thực tiễn đồng bộ. Về mặt pháp lý, cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật liên quan. Về mặt thực tiễn, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng; tăng cường hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó cần có chương trình hỗ trợ tài chính và vật chất cho đối tượng này.

VI. Tương Lai Của NNKT Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Mới Nhất

Nghiên cứu về địa vị pháp lý của người không quốc tịch tại Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Việc tiếp tục nghiên cứu và tìm kiếm các giải pháp sáng tạo là cần thiết để đảm bảo quyền lợi và tạo điều kiện để người không quốc tịch hòa nhập xã hội. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu tiếp tục đi sâu vào vấn đề này.

6.1. Tóm Tắt Các Kết Quả Nghiên Cứu Chính Ưu Nhược Điểm

Nghiên cứu đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc làm rõ địa vị pháp lý của người không quốc tịch tại Việt Nam, đánh giá thực trạng bảo hộ và đề xuất các giải pháp cải thiện. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục trong tương lai.

6.2. Các Hướng Nghiên Cứu Mới Giải Pháp Về Chính Sách Thực Thi

Trong tương lai, cần tập trung nghiên cứu các vấn đề như: Tác động của tình trạng không quốc tịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; Các giải pháp chính sách để giảm thiểu tình trạng không quốc tịch; Các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hộ người không quốc tịch.

27/04/2025
Địa vị pháp lý của người không quốc tịch và thực trạng tại việt nam trong việc bảo vệ người không quốc tịch

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ NHẬP QUỐC TỊCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH Mỗi quốc gia đều trải qua quá trình lịch sử từ chiến tranh mở rộng lãnh thổ, bảo vệ đất nước, xây dựng và phát triển đất nước cho đến ngày nay. Quyền con người luôn là vấn đề mà các quốc gia quan tâm khi đây là quyền dễ bị xâm phạm nhất, đặc biệt là liên quan tới quốc tịch. Bởi lẽ quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất xác định công dân của một Nhà nước và trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Như vậy, pháp luật quốc gia và pháp luật các nước trên thế giới đã có những quy định gì đối với vấn đề nhập tịch của người không quốc tịch.

Tổng quan về người không quốc tịch 1. Khái niệm người không quốc tịch Quyền có quốc tịch là quyền cơ bản của mỗi người. Trong pháp luật quốc tế, quyền có quốc tịch được thừa nhận và quy định trong các văn bản pháp lý như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966,. Các quy định về quốc tịch ngày càng được hoàn thiện và giải quyết một phần nào nhu cầu về quốc tịch cho các cá nhân.

Tuy nhiên, tình trạng người không quốc tịch vẫn còn rất nhiều và vẫn còn là một vấn đề đáng báo động. Phần lớn những người không quốc tịch rơi vào nhóm đối tượng đặc biệt trong xã hội như phụ nữ, trẻ em, những người nghèo trong xã hội, sinh sống ở trong những khu vực có nhiều khó khăn… Người không quốc tịch còn gọi là “statelessness” được hiểu là người mà không có quốc tịch của bất kỳ một nhà nước nào, không được coi là công dân của nhà nước nào theo pháp luật của quốc gia đó. Khái niệm này cũng được quy định cụ thể trong Công ước năm 1954 về vị thế của người không quốc tịch, theo đó người không quốc tịch được hiểu là người không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào theo pháp luật hiện hành của quốc gia đó. Theo khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch 2008, sửa đổi bổ sung 2014 cũng có quy định “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”, cách định nghĩa theo pháp luật Việt Nam cũng tương tự so với Công ước năm 1954.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng cá nhân không có quốc tịch Tình trạng không quốc tịch có thể xảy ra do ý chí của chính những người liên quan hoặc không phải do lỗi của họ, thông thường xảy ra trong những trường hợp sau đây: Thứ nhất, một người đã mất quốc tịch cũ (do được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, tự động mất quốc tịch.) nhưng chưa được vào quốc tịch của nước họ đang cư trú. Do xin thôi quốc tịch cũ, khi một cá nhân xin thôi hoặc từ bỏ quốc tịch cũ của mình mà không đảm bảo có quốc tịch mới hay chưa được cấp quốc tịch mới ngay khi đã thôi quốc tịch cũ và như vậy họ trở thành người không quốc tịch. Điều này rất phổ biến trong trường hợp phụ nữ xin thôi quốc tịch cũ của mình để lấy chồng nước ngoài và nhập quốc tịch của người chồng. Tại Việt Nam theo thống kê năm 2015 của Bộ Tư pháp1 thì có hơn 4.000 cô dâu Việt Nam xin thôi quốc tịch Việt Nam để lấy chồng nước ngoài.

Trong trường hợp này nếu họ đã thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa kịp có quốc tịch mới hoặc vì một số lý do mà không thể nhập quốc tịch mới được, như vậy họ trở thành người không quốc tịch. Do bị tước quốc tịch, rất ít trường hợp nhà nước tước quốc tịch của một công dân. Tuy nhiên khi công dân đó có những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như chống đối, gây hại tới an ninh quốc gia mà nhà nước không thể áp dụng biện pháp trừng phạt nào tương xứng với hành vi sai trái đó. Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014 cũng có quy định về căn cứ tước quốc tịch của một công dân, điều này thể hiện rõ ràng việc Nhà nước muốn tước quốc tịch của một ai đó cần phải có căn cứ cụ thể.

Việc tước quốc tịch của một công dân sẽ khiến cho người đó không còn là công dân của một quốc gia đồng thời không có quốc tịch mới hoặc chưa thể nhập quốc tịch mới thì họ sẽ trở thành người không quốc tịch. Do tự động mất quốc tịch nhưng chưa có quốc tịch khác, theo pháp luật của một số nước có những trường hợp công dân sẽ tự động mất quốc tịch. Theo quy định tại Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014 “Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này, dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ 1 Tạ Hiển, “Vì sao có tới hơn 4000 người xin thôi quốc tịch Việt Nam”, https://vtv.vn/xa-hoi/vi-sao-co-toi-hon- 4000-nguoi-xin-thoi-quoc-tich-viet-nam- htm, truy cập ngày 20/03/2023. 13 khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam có thể bị hủy bỏ, nếu được cấp chưa quá 5 năm.” dù đã nhập quốc tịch Việt Nam nhưng nếu cố ý khai không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ để nhập quốc tịch thì vẫn có thể hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hoặc theo quy định tại Điều 17 Luật Quốc tịch Australia, công dân Australia có thể mất quốc tịch nếu như họ thực hiện hành vi nào đó để có quốc tịch nước ngoài.

Như vậy khi mất quốc tịch cũ nhưng chưa kịp có quốc tịch mới thì họ sẽ trở thành người không quốc tịch. Thứ hai, do xung đột pháp luật Trong quy định về cách thức xác lập quốc tịch do sự sinh đẻ, có quốc gia áp dụng nguyên tắc nơi sinh, có quốc gia lại áp dụng nguyên tắc huyết thống để trao quốc tịch cho trẻ em. Như vậy nếu như cha, mẹ là công dân của nước A xác lập theo quốc tịch nơi sinh nhưng khi họ ra nước ngoài (nước B) và sinh đứa bé, nhưng nước B lại áp dụng nguyên tắc huyết thống để xác định quốc tịch, như vậy đứa trẻ trở thành người không quốc tịch. Nguyên nhân này cũng có thể phát sinh trong trường hợp đứa trẻ được sinh ra tại nước xác định quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống nhưng cha mẹ là người không quốc tịch thì đứa trẻ cũng trở thành người không quốc tịch.

Pháp luật về nhập quốc tịch đối với người không quốc tịch 1. Quyền có quốc tịch của người không quốc tịch Quyền quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và đầu tiên của một cá nhân khi ra đời. Ở Việt Nam, quyền này đã được ghi nhận tại Điều 17 Hiến pháp năm 2013 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”; Khoản 1 Điều 31 Điều 31 Bộ luật Dân sự 2015: “Cá nhân có quyền có quốc tịch”. Quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với quốc gia, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cá nhân đó với quốc gia mà mình có quốc tịch và quyền, trách nhiệm của quốc gia đó với cá nhân mang quốc tịch của quốc gia mình2.

Đối với người không quốc tịch, quyền này còn quan trọng hơn cả. Để đảm bảo mọi người đều có quốc tịch, các quy định trong pháp luật quốc tế và cả quốc gia đều có quy định việc được hưởng quốc tịch một cách mặc nhiên đối với các cá nhân và đối với các cá nhân đã mất quốc tịch. Theo quy định tại Điều 32 Công ước 1954 về vị thế của người không quốc tịch quy định về vấn đề Nhập quốc tịch đã nêu: “Các quốc gia thành viên sẽ tạo 2 Quan Chung, “Người không quốc tịch ở Việt Nam có thể được hưởng quyền và nghĩa vụ”, https://thesaigontimes.vn/nguoi-khong-quoc-tich-o-vn-co-the-duoc-huong-quyen-va-nghia-vu/, truy cập ngày 28/3/2023. 14 điều kiện thuận lợi hết mức có thể cho việc hòa nhập và nhập tịch của người không quốc tịch.

Các quốc gia thành viên cụ thể sẽ tiến hành mọi nỗ lực để xúc tiến thủ tục nhập tịch và giảm hết mức có thể các khoản phí và chi phí cho những thủ tục như vậy”. Khoản 1 Điều 15 Tuyên ngôn nhân quyền 1948 quy định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch”. Quy định tại Điều 7 Công ước về quyền trẻ em cũng có quy định: “1. Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời, và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc.

Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm việc thực hiện những quyền đó phù hợp với pháp luật quốc gia, với những nghĩa vụ của họ theo các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp mà nếu không làm như thế thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch.” Có thể thấy, quyền có quốc tịch là quyền tự nhiên, vốn có của cá nhân. Kể từ khi sinh ra, họ đã có quyền này. Tuy nhiên vì một lý do nào đó mà họ trở thành người không quốc tịch. Nhưng không có nghĩa như thế là họ mất đi quyền vốn có này của mình.

Đặc biệt là đối tượng trẻ em. Trong pháp luật của một số quốc gia cũng đã loại trừ khả năng một đứa trẻ sinh ra mà không có quốc tịch nên đã có những quy định cho phép đứa trẻ ấy được hưởng quốc tịch ngay cả khi ba mẹ chúng là người không quốc tịch. Cụ thể Điều 4 Luật Quốc tịch Đức quy định: “(1) Trẻ em sinh ra có quốc tịch Đức, nếu bố/mẹ mang quốc tịch Đức. Trong trường hợp chỉ mỗi bố quốc tịch Đức và đòi hỏi phải xác nhận hay thừa nhận quan hệ cha con, thì phải có giấy thừa nhận hay xác nhận quan hệ cha con đó theo luật Đức.

Phải nộp tuyên bố thừa nhận đó, hoặc phải tiến hành quá trình xác nhận quan hệ cha con đó trước khi đứa trẻ tròn 23 tuổi. (2) Trẻ em bị bỏ rơi tìm thấy ở Đức được coi là con của người Đức cho tới khi có bằng chứng ngược lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ