CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ NHẬP QUỐC TỊCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH Mỗi quốc gia đều trải qua quá trình lịch sử từ chiến tranh mở rộng lãnh thổ, bảo vệ đất nước, xây dựng và phát triển đất nước cho đến ngày nay. Quyền con người luôn là vấn đề mà các quốc gia quan tâm khi đây là quyền dễ bị xâm phạm nhất, đặc biệt là liên quan tới quốc tịch. Bởi lẽ quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất xác định công dân của một Nhà nước và trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Như vậy, pháp luật quốc gia và pháp luật các nước trên thế giới đã có những quy định gì đối với vấn đề nhập tịch của người không quốc tịch.
Tổng quan về người không quốc tịch 1. Khái niệm người không quốc tịch Quyền có quốc tịch là quyền cơ bản của mỗi người. Trong pháp luật quốc tế, quyền có quốc tịch được thừa nhận và quy định trong các văn bản pháp lý như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966,. Các quy định về quốc tịch ngày càng được hoàn thiện và giải quyết một phần nào nhu cầu về quốc tịch cho các cá nhân.
Tuy nhiên, tình trạng người không quốc tịch vẫn còn rất nhiều và vẫn còn là một vấn đề đáng báo động. Phần lớn những người không quốc tịch rơi vào nhóm đối tượng đặc biệt trong xã hội như phụ nữ, trẻ em, những người nghèo trong xã hội, sinh sống ở trong những khu vực có nhiều khó khăn… Người không quốc tịch còn gọi là “statelessness” được hiểu là người mà không có quốc tịch của bất kỳ một nhà nước nào, không được coi là công dân của nhà nước nào theo pháp luật của quốc gia đó. Khái niệm này cũng được quy định cụ thể trong Công ước năm 1954 về vị thế của người không quốc tịch, theo đó người không quốc tịch được hiểu là người không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào theo pháp luật hiện hành của quốc gia đó. Theo khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch 2008, sửa đổi bổ sung 2014 cũng có quy định “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”, cách định nghĩa theo pháp luật Việt Nam cũng tương tự so với Công ước năm 1954.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng cá nhân không có quốc tịch Tình trạng không quốc tịch có thể xảy ra do ý chí của chính những người liên quan hoặc không phải do lỗi của họ, thông thường xảy ra trong những trường hợp sau đây: Thứ nhất, một người đã mất quốc tịch cũ (do được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, tự động mất quốc tịch.) nhưng chưa được vào quốc tịch của nước họ đang cư trú. Do xin thôi quốc tịch cũ, khi một cá nhân xin thôi hoặc từ bỏ quốc tịch cũ của mình mà không đảm bảo có quốc tịch mới hay chưa được cấp quốc tịch mới ngay khi đã thôi quốc tịch cũ và như vậy họ trở thành người không quốc tịch. Điều này rất phổ biến trong trường hợp phụ nữ xin thôi quốc tịch cũ của mình để lấy chồng nước ngoài và nhập quốc tịch của người chồng. Tại Việt Nam theo thống kê năm 2015 của Bộ Tư pháp1 thì có hơn 4.000 cô dâu Việt Nam xin thôi quốc tịch Việt Nam để lấy chồng nước ngoài.
Trong trường hợp này nếu họ đã thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa kịp có quốc tịch mới hoặc vì một số lý do mà không thể nhập quốc tịch mới được, như vậy họ trở thành người không quốc tịch. Do bị tước quốc tịch, rất ít trường hợp nhà nước tước quốc tịch của một công dân. Tuy nhiên khi công dân đó có những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như chống đối, gây hại tới an ninh quốc gia mà nhà nước không thể áp dụng biện pháp trừng phạt nào tương xứng với hành vi sai trái đó. Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014 cũng có quy định về căn cứ tước quốc tịch của một công dân, điều này thể hiện rõ ràng việc Nhà nước muốn tước quốc tịch của một ai đó cần phải có căn cứ cụ thể.
Việc tước quốc tịch của một công dân sẽ khiến cho người đó không còn là công dân của một quốc gia đồng thời không có quốc tịch mới hoặc chưa thể nhập quốc tịch mới thì họ sẽ trở thành người không quốc tịch. Do tự động mất quốc tịch nhưng chưa có quốc tịch khác, theo pháp luật của một số nước có những trường hợp công dân sẽ tự động mất quốc tịch. Theo quy định tại Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014 “Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này, dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ 1 Tạ Hiển, “Vì sao có tới hơn 4000 người xin thôi quốc tịch Việt Nam”, https://vtv.vn/xa-hoi/vi-sao-co-toi-hon- 4000-nguoi-xin-thoi-quoc-tich-viet-nam- htm, truy cập ngày 20/03/2023. 13 khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam có thể bị hủy bỏ, nếu được cấp chưa quá 5 năm.” dù đã nhập quốc tịch Việt Nam nhưng nếu cố ý khai không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ để nhập quốc tịch thì vẫn có thể hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hoặc theo quy định tại Điều 17 Luật Quốc tịch Australia, công dân Australia có thể mất quốc tịch nếu như họ thực hiện hành vi nào đó để có quốc tịch nước ngoài.
Như vậy khi mất quốc tịch cũ nhưng chưa kịp có quốc tịch mới thì họ sẽ trở thành người không quốc tịch. Thứ hai, do xung đột pháp luật Trong quy định về cách thức xác lập quốc tịch do sự sinh đẻ, có quốc gia áp dụng nguyên tắc nơi sinh, có quốc gia lại áp dụng nguyên tắc huyết thống để trao quốc tịch cho trẻ em. Như vậy nếu như cha, mẹ là công dân của nước A xác lập theo quốc tịch nơi sinh nhưng khi họ ra nước ngoài (nước B) và sinh đứa bé, nhưng nước B lại áp dụng nguyên tắc huyết thống để xác định quốc tịch, như vậy đứa trẻ trở thành người không quốc tịch. Nguyên nhân này cũng có thể phát sinh trong trường hợp đứa trẻ được sinh ra tại nước xác định quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống nhưng cha mẹ là người không quốc tịch thì đứa trẻ cũng trở thành người không quốc tịch.
Pháp luật về nhập quốc tịch đối với người không quốc tịch 1. Quyền có quốc tịch của người không quốc tịch Quyền quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và đầu tiên của một cá nhân khi ra đời. Ở Việt Nam, quyền này đã được ghi nhận tại Điều 17 Hiến pháp năm 2013 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”; Khoản 1 Điều 31 Điều 31 Bộ luật Dân sự 2015: “Cá nhân có quyền có quốc tịch”. Quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với quốc gia, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cá nhân đó với quốc gia mà mình có quốc tịch và quyền, trách nhiệm của quốc gia đó với cá nhân mang quốc tịch của quốc gia mình2.
Đối với người không quốc tịch, quyền này còn quan trọng hơn cả. Để đảm bảo mọi người đều có quốc tịch, các quy định trong pháp luật quốc tế và cả quốc gia đều có quy định việc được hưởng quốc tịch một cách mặc nhiên đối với các cá nhân và đối với các cá nhân đã mất quốc tịch. Theo quy định tại Điều 32 Công ước 1954 về vị thế của người không quốc tịch quy định về vấn đề Nhập quốc tịch đã nêu: “Các quốc gia thành viên sẽ tạo 2 Quan Chung, “Người không quốc tịch ở Việt Nam có thể được hưởng quyền và nghĩa vụ”, https://thesaigontimes.vn/nguoi-khong-quoc-tich-o-vn-co-the-duoc-huong-quyen-va-nghia-vu/, truy cập ngày 28/3/2023. 14 điều kiện thuận lợi hết mức có thể cho việc hòa nhập và nhập tịch của người không quốc tịch.
Các quốc gia thành viên cụ thể sẽ tiến hành mọi nỗ lực để xúc tiến thủ tục nhập tịch và giảm hết mức có thể các khoản phí và chi phí cho những thủ tục như vậy”. Khoản 1 Điều 15 Tuyên ngôn nhân quyền 1948 quy định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch”. Quy định tại Điều 7 Công ước về quyền trẻ em cũng có quy định: “1. Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời, và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc.
Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm việc thực hiện những quyền đó phù hợp với pháp luật quốc gia, với những nghĩa vụ của họ theo các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp mà nếu không làm như thế thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch.” Có thể thấy, quyền có quốc tịch là quyền tự nhiên, vốn có của cá nhân. Kể từ khi sinh ra, họ đã có quyền này. Tuy nhiên vì một lý do nào đó mà họ trở thành người không quốc tịch. Nhưng không có nghĩa như thế là họ mất đi quyền vốn có này của mình.
Đặc biệt là đối tượng trẻ em. Trong pháp luật của một số quốc gia cũng đã loại trừ khả năng một đứa trẻ sinh ra mà không có quốc tịch nên đã có những quy định cho phép đứa trẻ ấy được hưởng quốc tịch ngay cả khi ba mẹ chúng là người không quốc tịch. Cụ thể Điều 4 Luật Quốc tịch Đức quy định: “(1) Trẻ em sinh ra có quốc tịch Đức, nếu bố/mẹ mang quốc tịch Đức. Trong trường hợp chỉ mỗi bố quốc tịch Đức và đòi hỏi phải xác nhận hay thừa nhận quan hệ cha con, thì phải có giấy thừa nhận hay xác nhận quan hệ cha con đó theo luật Đức.
Phải nộp tuyên bố thừa nhận đó, hoặc phải tiến hành quá trình xác nhận quan hệ cha con đó trước khi đứa trẻ tròn 23 tuổi. (2) Trẻ em bị bỏ rơi tìm thấy ở Đức được coi là con của người Đức cho tới khi có bằng chứng ngược lại.