Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Những khái niệm có liên quan 1. Khái niệm hội thẩm Nghiên cứu các cuốn từ điển ở trong và ngoài nước (bao gồm cả từ điển thông dụng và từ điển pháp lý chuyên ngành) có thể rút ra một nhận xét tương đối khái quát là: trong ngôn ngữ tiếng Việt, khái niệm “hội thẩm” có thể được diễn đạt bằng nhiều từ khác nhau (hội thẩm, phụ thẩm, bồi thẩm). Ngược lại, trong tiếng nước ngoài, từ “hội thẩm” (assesseur) là được sử dụng như một từ đa nghĩa với nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều nghĩa khác nhau rất phức tạp.
Điều này có nghĩa là: người Việt dùng nhiều từ để diễn đạt một khái niệm trong khi người nước ngoài sử dụng một từ để chỉ nhiều khái niệm (nhiều nghĩa hoàn toàn khác nhau). Có thể thấy rõ hiện tượng này qua một số cuốn từ điển cụ thể dưới đây. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam thì “hội thẩm” được hiểu là: “đại biểu nhân dân cùng ngồi xử án với các thẩm phán” [46, tr. Cũng theo Từ điển này, “bồi thẩm” là “thẩm phán cùng ngồi xét xử với chánh án trong một phiên tòa”.
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp thì “hội thẩm nhân dân” là “Người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án” [44, tr. Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh không đưa ra định nghĩa “hội thẩm” song có giải thích nghĩa riêng rẽ của hai từ Hán Việt là “Hội” và “Thẩm”. Từ “Hội” có nghĩa là: “Họp nhau - Cơ quan có nhiều người họp để làm việc - Gặp - Ý tứ và sự lý hợp nhau - Bản lĩnh và sự tình hợp nhau” [2, tr. Còn từ “Thẩm” 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được hiểu là “Biết rõ tình hình - Khảo xét kỹ càng - Xử đoán”.
Căn cứ vào nghĩa của từng từ riêng rẽ, có thể hiểu “hội thẩm” là người thấu suốt tình lý tham gia vào việc xử án. Điểm đáng lưu ý là, mặc dù không định nghĩa về “hội thẩm” nhưng Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh lại giải thích về bồi thẩm và chế độ bồi thẩm. Theo ông Đào Duy Anh, “Bồi” là: “Theo cho có bạn - Giúp thêm - Làm tôi - Ở hai bên người khác” và “Bồi thẩm” là “Những người do công dân cử lên để tham dự vào việc thẩm phán ở Pháp đình”. Còn “Bồi thẩm chế độ” là “Khi Pháp viện xét án dân sự, trừ pháp quan còn có những người do công dân hợp cách cử ra để thẩm tra tình hình sự thực, pháp quan cứ theo quyết nghị của mấy người ấy để phán quyết.
Mấy người ấy gọi là bồi thẩm. Chế độ ấy thịnh hành nhất ở Anh và Mỹ” [2, tr. Trong các cuốn từ điển ở Việt Nam hiện nay, không thấy có Từ điển nào giải thích thuật ngữ “phụ thẩm”. Tuy nhiên, khái niệm “phụ thẩm” được sử dụng rất phổ biến trong các văn bản pháp luật ban hành trước năm 1950 như Sắc lệnh số 13/SL, Sắc lệnh số 33/SL và trong cả bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta - Hiến pháp năm 1946.
Nghiên cứu tài liệu nước ngoài đề cập đến vấn đề hội thẩm, trước hết cần chú ý đến Cuốn sách Thuật ngữ pháp lý phổ thông (tập I) do tập thể các nhà khoa học pháp lý Xô viết như I. Azovkin và các tác giả khác viết, Nhà xuất bản “Sách pháp lý” xuất bản năm 1973, được dịch và công bố ở Việt Nam vào năm 1986. Theo các tác giả của cuốn sách này ở mục “Hội thẩm nhân dân” thì: “Việc xét xử các vụ án tại các tòa án cấp sơ thẩm do một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân tiến hành. Công dân Liên xô có quyền bầu cử và đủ 25 tuổi có thể được bầu làm hội thẩm nhân dân”.
Với cách tiếp cận này, có thể thấy chế định hội thẩm ở Liên xô (trước đây) cũng tương tự như ở nước ta hiện nay. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mở rộng nguồn tài liệu nghiên cứu sang các tài liệu khoa học pháp lý phương Tây, Từ điển pháp lý (dictionnaire juridique) của Pháp định nghĩa: Trong ngôn ngữ pháp lý tố tụng, thuật ngữ Hội thẩm (Assesseur) được sử dụng để chỉ những người có thẩm quyền, thành lập và hoạt động theo thể thức tập thể, hỗ trợ thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Thuật ngữ nói trên cũng còn được dùng để chỉ tất cả những người nào tham gia vào việc đưa ra các quyết định (phán quyết), bao gồm cả những thành viên không chuyên nghề xét xử trong một số thiết chế tư pháp như Tòa án Thương mại, Tòa án về những vụ việc liên quan đến an sinh xã hội hay Tòa án về những vấn đề nông thôn. Từ điển Larousse giải thích nguồn gốc từ Hội thẩm (Assesseur) trong tiếng Pháp bắt nguồn từ thuật ngữ “Assessor” của tiếng La tinh, có nghĩa là “giúp đỡ hoặc đưa ra lời khuyên”.
Các tác giả Từ điển Larousse cho rằng từ “Hội thẩm” (Assesseur) trong tiếng Pháp có 4 nghĩa sau đây: 1) Là thẩm phán giúp đỡ, hỗ trợ chủ tọa phiên tòa và nghị án cùng với ông ta; 2) Là danh từ dùng để chỉ thành viên của một số thiết chế tư pháp đặc biệt (như Tòa án về những vấn đề nông thôn hay Tòa thương mại liên quan đến các giao thương trên biển) hoặc thành viên của các văn phòng bầu cử quốc gia; 3) Dưới thời đế chế La Mã thống trị, hội thẩm (Assesseur) là những luật gia cố vấn có nhiệm vụ hỗ trợ về mặt pháp lý cho các thẩm phán ra phán quyết; 4) Trong chế độ cũ (trước cách mạng 1789 ở Pháp), hội thẩm là những người giúp đỡ cho người đứng đầu các tổ chức tư pháp hoặc là những nhân viên tư pháp tham dự hoạt động xét xử với các thẩm phán trong các phiên tòa hình sự. Theo Từ điển phổ thông wikipedia.org trên mạng Internet thì: Hội thẩm (Assesseur) là người ngồi bên cạnh một người khác để giúp đỡ người này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của họ và bổ sung, hỗ trợ họ khi thấy cần thiết. Trong các quy định pháp luật, hội thẩm là người hoạt động trong lĩnh vực tư pháp có chức năng hỗ trợ cho thẩm phán. Ở một nghĩa khác, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuật ngữ Assesseur (Hội thẩm) còn được dùng để chỉ những người có nhiệm vụ bảo đảm cho các cuộc bầu cử diễn ra suôn sẻ, nhất là trong việc kiểm tra tư cách cử tri hoặc tính hợp pháp của cuộc bầu cử.
Ở Thụy Sĩ, người ta còn gọi là Assesseur (Hội thẩm) những người là thành viên không giữ chức vụ chủ tịch, thư ký hay kế toán trưởng trong cơ quan điều hành của các tổ chức xã hội. Từ những điều đã trình bày trên, có thể thấy, ở nước ta, chế định Hội thẩm chính thức chỉ xuất hiện từ năm 1945 trở lại đây với hai tên gọi thay thế nhau theo thời gian là “phụ thẩm” và “hội thẩm”. Có thể nói “phụ thẩm” và “hội thẩm” là hai thuật ngữ tương đương ngang nghĩa nhau song khái niệm “phụ thẩm” được sử dụng trước năm 1950. Từ năm 1950 đến nay, chúng ta thống nhất dùng thuật ngữ “hội thẩm”.
So sánh với quan niệm của các nhà khoa học pháp lý Liên Xô trước đây, có thể thấy quan niệm của giới nghiên cứu luật học Việt Nam về “hội thẩm” chịu ảnh hưởng của trường phái pháp luật Xô viết. Mặt khác, sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong xét xử làm tăng cường tính chất dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án. Hội thẩm nhân dân là những người được Hội đồng nhân dân cùng cấp tín nhiệm bầu ra, thay mặt cho nhân dân tham gia hoạt động xét xử các vụ án sơ thẩm, đảm bảo cho hoạt động xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Sự tham gia của Hội thẩm trong xét xử vụ án tại Tòa án thể hiện sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Thông qua hoạt động xét xử các vụ án của Hội thẩm nhân dân cùng với Thẩm phán chuyên nghiệp, để nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước và xã hội, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo các bản án của Tòa án tuyên chính xác, khách quan, phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Mặt khác, Hội thẩm là người sinh sống trong các cụm dân cư, làm việc trong cơ quan, xí nghiệp trường học, đơn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vị sản xuất… là người có kinh nghiệm hoạt động xã hội, có mối quan hệ khá rộng với nhiều tầng lớp dân cư, nên có khả năng hiểu đặc điểm, hoàn cảnh, tâm lý của người vi phạm pháp luật nói chung, người phạm tội nói riêng, từ đó giúp Tòa án giải quyết vụ án kịp thời và đúng đắn, phù hợp nguyện vọng quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Thông qua hoạt động của Hội thẩm nhân dân, Tòa án có điều kiện nắm bắt ý kiến quần chúng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án; giúp quần chúng nhân dân hiểu rõ về hoạt động của Tòa án nói chung, hoạt động xét xử nói riêng. Quần chúng nhân dân được nâng cao ý thức pháp luật, tự giác chấp hành và bảo vệ pháp luật.
Hội thẩm nhân dân còn góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung, kết quả xét xử các vụ án cho quần chúng nhân dân nói riêng Là những người cùng sinh sống, làm việc trong các cụm dân cư, các đơn vị sản xuất, các cơ quan hành chính, sự nghiệp; người có sự hiểu biết pháp luật nhất định. Sau mỗi phiên tòa, Hội thẩm nhân dân trở về với dân cư nơi sinh sống và nơi làm việc, nên Hội thẩm nhân dân có điều kiện phổ biến pháp luật và kết quả xét xử vụ án của Tòa án cho quần chúng nhân dân [11]. Như vậy, hội thẩm là người đại diện của nhân dân, được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để cùng thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án để giúp Tòa án giải quyết vụ án kịp thời và đúng đắn, phù hợp nguyện vọng quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp trong xã hội cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm.