Luận văn thạc sĩ vnu ls địa vị pháp lý của chính phủ theo hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 xu hướng phát triển và hoàn thiện

Luận văn thạc sĩ phân tích địa vị pháp lý của chính phủ theo hiến pháp 1992 sửa đổi, xu hướng phát triển và hoàn thiện trong bối cảnh hiện nay.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

102
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

1.4. Giới hạn nghiên cứu của Luận văn

1.5. Phương pháp nghiên cứu của Luận văn

1.6. Ý nghĩa của Luận văn

1.7. Kết cấu của Luận văn

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ QUA CÁC MÔ HÌNH CHÍNH THỂ TRÊN THẾ GIỚI

2.1. Đôi nét về sự ra đời của thiết chế Chính phủ

2.2. Tổng quan về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các mô hình chính thể trên thế giới

2.2.1. Chính phủ trong nhà nước theo chính thể Quân chủ Đại nghị

2.2.2. Chính phủ trong chính thể Cộng hòa

2.2.3. Chính phủ trong chính thể Cộng hòa Đại nghị

2.2.4. Mô hình Chính phủ một người của chế độ Tổng thống

2.2.5. Chính phủ trong Cộng hòa Lưỡng tính

2.3. Kết luận chương 1

3. CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỀ TỔ CHỨC CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP

3.1. Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1946

3.2. Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1959

3.3. Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1980

3.4. Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1992

3.5. Kết luận chương 2

4. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HIẾN PHÁP 1992 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2001)

4.1. Kết quả đạt được

4.2. Các quy định Hiến pháp về Chính phủ đã từng bước thể hiện bước chuyển sang xây dựng nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa

4.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ đã được quy định khá phù hợp

4.4. Cơ cấu và tổ chức Chính phủ tương đối phù hợp

4.5. Quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ trưởng phù hợp với vai trò quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

4.6. Các thành tựu trong từng lĩnh vực cụ thể

4.7. Một số vướng mắc, bất cập

4.8. Cần xác định rõ vị trí, chức năng của Chính phủ

4.9. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ

4.10. Về thẩm quyền của Thủ tướng và tập thể Chính phủ

4.11. Hiện nay có sự lẫn lộn giữa khái niệm “Bộ” hoặc “Tập thể lãnh đạo bộ” với Bộ trưởng

4.12. Về quan hệ với chính quyền địa phương

4.13. Quy định về quan hệ báo cáo không rõ ràng

4.14. Về hình thức trách nhiệm đối với Chính phủ

4.15. Về hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

4.16. Về kỹ thuật lập Hiến

4.17. Về cơ cấu, tổ chức Chính phủ

4.18. Cần xem xét lại chức danh Phó Thủ tướng Chính phủ

4.19. Về tính kiêm nhiệm

4.20. Các hình thức hoạt động của Chính phủ

4.21. Tình trạng tham nhũng còn xảy ra tràn lan

4.22. Kết luận chương 3

5. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỂ NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ

5.1. Một số yêu cầu và quan điểm hoàn thiện Hiến pháp 1992 về chế định Chính phủ

5.2. Các quan điểm hoàn thiện chế định Chính phủ phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc áp dụng chung cho toàn bộ bộ máy nhà nước

5.3. Cần làm rõ chủ thể thực hiện quyền Hành pháp

5.4. Cần có sự phân biệt về nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh thành viên Chính phủ

5.5. Cần hoàn thiện các quy định Hiến pháp về hình thức trách nhiệm đối với Chính phủ

5.6. Hoàn thiện Hiến pháp 1992 về chế định Chính phủ cần dựa trên cơ sở tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện Hiến pháp

5.7. Một số giải pháp hoàn thiện để nâng cao địa vị pháp lý của Chính phủ

5.8. Về vị trí, tính chất pháp lý của Chính phủ

5.9. Về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ

5.10. Về nhiệm vụ và quyền hạn của tập thể Chính phủ

5.11. Về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ

5.12. Về nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ trưởng – thành viên Chính phủ

5.13. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ

5.14. Về hình thức hoạt động của Chính phủ

5.15. Về mối quan hệ của Chính phủ với Quốc hội

5.16. Về mối quan hệ của Chính phủ với Tòa án nhân dân

5.17. Về mối quan hệ của Chính phủ với Viện kiểm sát nhân dân

5.18. Hiến pháp và vấn đề phòng, chống tham nhũng

5.19. Địa vị pháp lý của Chính phủ theo quy định của dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

5.20. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp 1992

Địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Chính phủ Việt Nam, với vai trò là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ thực hiện quyền hành pháp và quản lý nhà nước. Hiến pháp 1992 đã tạo ra một khung pháp lý cho Chính phủ, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục. Việc nghiên cứu địa vị pháp lý của Chính phủ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ cấu tổ chức mà còn chỉ ra những thách thức trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.

1.1. Địa vị pháp lý của Chính phủ trong hệ thống nhà nước

Chính phủ Việt Nam được quy định là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ thực hiện quyền hành pháp theo Hiến pháp. Địa vị pháp lý của Chính phủ không chỉ thể hiện qua các quy định trong Hiến pháp mà còn qua các văn bản pháp luật khác. Điều này tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của Chính phủ, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về việc hoàn thiện các quy định này để phù hợp với thực tiễn.

1.2. Sự phát triển của Chính phủ qua các bản Hiến pháp

Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1992, Chính phủ đã trải qua nhiều thay đổi về cơ cấu và chức năng. Mỗi bản Hiến pháp đều phản ánh những yêu cầu và thách thức của từng giai đoạn lịch sử. Việc nghiên cứu sự phát triển này giúp nhận diện rõ hơn về xu hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của Chính phủ trong bối cảnh hiện đại.

II. Vấn đề và thách thức trong Địa vị pháp lý của Chính phủ hiện nay

Mặc dù Hiến pháp 1992 đã tạo ra một khung pháp lý cho Chính phủ, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề và thách thức cần được giải quyết. Các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến sự lẫn lộn trong việc thực hiện quyền lực. Hơn nữa, mối quan hệ giữa Chính phủ và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước cũng cần được làm rõ hơn.

2.1. Những hạn chế trong quy định về quyền hạn của Chính phủ

Một trong những vấn đề lớn nhất hiện nay là sự thiếu rõ ràng trong quy định về quyền hạn của Chính phủ. Điều này dẫn đến việc thực hiện quyền lực không hiệu quả và gây khó khăn trong quản lý nhà nước. Cần có những điều chỉnh để xác định rõ ràng hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ.

2.2. Mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội

Mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Chính phủ. Sự phối hợp giữa hai cơ quan này cần được cải thiện để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nhà nước.

III. Phương pháp hoàn thiện Địa vị pháp lý của Chính phủ

Để nâng cao địa vị pháp lý của Chính phủ, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc hoàn thiện các quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan là rất cần thiết. Đồng thời, cần có sự tham gia của các chuyên gia và nhà nghiên cứu trong quá trình này để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

3.1. Cải cách quy định về quyền hạn của Chính phủ

Cần xem xét và điều chỉnh các quy định về quyền hạn của Chính phủ để đảm bảo tính rõ ràng và khả thi. Việc này không chỉ giúp Chính phủ hoạt động hiệu quả hơn mà còn tạo ra sự tin tưởng từ phía người dân.

3.2. Tăng cường mối quan hệ giữa Chính phủ và các cơ quan khác

Tăng cường mối quan hệ giữa Chính phủ và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước là rất quan trọng. Cần có các cơ chế phối hợp rõ ràng để đảm bảo sự đồng bộ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Chính phủ

Nghiên cứu về địa vị pháp lý của Chính phủ không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể giúp cải thiện hoạt động của Chính phủ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Việc áp dụng các giải pháp đã được đề xuất sẽ góp phần vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.

4.1. Các mô hình Chính phủ thành công trên thế giới

Nghiên cứu các mô hình Chính phủ thành công trên thế giới có thể cung cấp những bài học quý giá cho Việt Nam. Việc áp dụng các mô hình này cần được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Các nghiên cứu thực tiễn về hoạt động của Chính phủ đã chỉ ra nhiều điểm mạnh và điểm yếu. Việc phân tích các kết quả này sẽ giúp đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ.

V. Kết luận và tương lai của Địa vị pháp lý của Chính phủ

Địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp cải cách là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ. Tương lai của Chính phủ Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải cách của nó trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5.1. Xu hướng phát triển của Chính phủ trong tương lai

Xu hướng phát triển của Chính phủ trong tương lai sẽ tập trung vào việc nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm. Điều này sẽ giúp Chính phủ hoạt động hiệu quả hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

5.2. Những thách thức cần vượt qua

Mặc dù có nhiều cơ hội, Chính phủ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình cải cách. Việc nhận diện và vượt qua những thách thức này là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của Chính phủ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls địa vị pháp lý của chính phủ theo hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 xu hướng phát triển và hoàn thiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các mô hình chính thể trên thế giới; Chương 2: Sự hình thành và phát triển về tổ chức của Chính phủ Việt Nam từ 1945 đến nay qua các bản Hiến pháp; Chương 3: Thực trạng và xu hướng phát triển về Địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện để nâng cao Địa vị pháp lý của Chính phủ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ QUA CÁC MÔ HÌNH CHÍNH THỂ TRÊN THẾ GIỚI 1. Đôi nét về sự ra đời của thiết chế Chính phủ Nhiều định chế quyền lực có gốc tích ở Anh quốc. Nội các - Chính phủ cũng có nguồn gốc từ xứ sở này [8, tr.

Vào khoảng thế kỷ thứ XV - XVI, để giúp các nhà Vua trị nước, an dân có nhiều quan lại gọi là nhưng bậc quần thần thượng thư phụ tá. Nhà vua thường triệu hồi các bậc quần thần này để lấy ý kiến của họ về những vấn đề quan trọng. Đến thế kỷ XVII dựa trên cơ sở các bậc quần thần này, một cơ quan được thiết lập với tên gọi Viện Cơ mật. Đó là cơ quan tối cao giúp nhà vua thảo luận, quyết định những vấn đề trọng đại và bí mật.

Đến đầu Thế kỷ XVIII, năm 1714, khi George lên ngôi, vị vua Anh này mang dòng máu Đức, không biết rành rọt tiếng Anh, không thích thú với công việc làm Vua nước Anh, rất chểnh mảng việc dự các phiên họp của Viện Cơ mật nói trên, mà chỉ quan tâm đến dòng họ Hanauver bên Đức. Dần dần công việc cai trị đất nước nhà vua uỷ thác hoàn toàn cho Viện Cơ mật. Không có nhà Vua chủ trì, Viện Cơ mật buộc phải tìm ra trong số quần thần một vị thượng thư thứ nhất chủ trì các phiên họp. Sau này các thượng thư được chuyển đổi tên gọi là các bộ trưởng, hội nghị trên thành nội các.

Vị thượng thư thứ nhất điều khiển gọi là thủ tướng như ngày nay. Các bộ trưởng càng ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong công việc cai trị quốc gia, thường họp thành nội các nhưng không có mặt vua. Nội các dần dần trở thành một tập thể thống nhất hành động dưới quyền chủ toạ của thủ tướng, liên đới chịu trách nhiệm trước quốc hội. Vua vắng mặt, các vị thượng thư càng thấy dễ dàng hơn và yên ổn hơn khi chống đối các ý kiến của vua, đồng thời họ củng cố lẫn nhau bằng cách chịu trách 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm chung về các quyết định.

Vua George III, vốn sinh trưởng ở Anh, mặc dù thành thạo tiếng Anh, tìm cách phục hồi quyền lực. Nhưng ông đã bị thất bại năm 1776. Vào những năm trị vì cuối cùng, vua bị điên, nên uy thế của nội các đối với việc cai trị nhà nước càng vững thêm [2, tr. Theo tiến trình của dân chủ, thế lực của vương triều ngày càng giảm sút, những phiên họp Quốc hội do nhà Vua điều hành ngày càng trở nên hình thức, trong khi đó công việc thực sự của Quốc hội là công lao của hai viện họp riêng.

Ưu thế của Quốc hội đã bắt nhà Vua cai trị qua các vị bộ trưởng có chân ở trong Quốc hội. Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, nhà Vua William đã vấp phải rất nhiều khó khăn trong việc điều hành đất nước thông qua các vị bộ trưởng chỉ có chân đơn thuần trong Quốc hội, mà không có uy tín trong Quốc hội. Từ năm 1693- 1696 nhà Vua giải tán đảng Tories và giao phó các chức vụ bộ trưởng (thượng thư) cho đảng Whigs, chiếm đa số tại Hạ Nghị viện, thái độ cứng rắn trước kia của Quốc hội đã trở nên mềm dẻo. Làm như vậy có lợi cho nhà Vua vì hoàn cảnh chính trị đã bó buộc các vị quân vương chỉ thu dụng làm Bộ trưởng những vị nghị sỹ có thế lực tại Hạ Nghị viện.

Nếu được Hạ Nghị viện tín nhiệm, các vị đó có thể kiểm soát được cơ quan này. Nhờ hoàn cảnh đó mà phát sinh ra thủ tục chọn vị Thủ tướng Chính phủ - người đứng đầu hành pháp, phải là thủ lĩnh của Đảng cầm quyền. Tiếp theo thủ tục chọn Chính phủ trong đảng chiếm đa số ở Hạ nghị viện là thủ tục Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Cũng vì không biết tiếng Anh một cách rành rọt, nhà Vua cũng không dự các phiên họp của Hạ nghị viện.

Để nhà Vua nắm được tình hình, vị Bộ trưởng đứng đầu Nội các (Cơ Mật viện) sau mỗi phiên họp phải tâu trình chi tiết cuộc thảo luận hay những quyết nghị của Nghị viện. Thời Walpole làm Bộ trưởng đứng đầu Nội các, lại không biết tiếng Đức, thành thử vua tôi chỉ trao đổi với nhau bằng tiếng La tinh, vì người nào 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng biết được chút ít thứ ngôn ngữ cổ này. Như thế ông Bộ trưởng đứng đầu Nội các mặc nhiên dần dần làm nhiệm vụ như của Thủ tướng Chính phủ hiện nay. Lâu dần thành thói quen, khi Walpole được gánh vác trách nhiệm đó, ông độc đoán, nhưng lại vì ông có tài nên được mọi người khâm phục.

Do đó quyền hành của Walpole mỗi ngày một tăng, Nội các trở thành một cơ quan thống nhất do chính ông lựa chọn và điều khiển. Walpole chấp nhận và lập luận rằng, ông có quyền đó là do sự nhất trí của đa số trong Viện Dân biểu, và khác với các vị tiền nhiệm, ông tuyên bố sẽ từ chức nếu Viện Dân biểu không còn tín nhiệm ông. 246 – 247] Năm 1742, khi không được Hạ nghị viện tín nhiệm, ông Wapole từ chức. Năm 1782 tương tự như vậy ông Lord North, cũng không được Hạ nghị viện tín nhiệm, ông từ chức.

Nhưng sự từ chức của Lord North lại kéo theo cả Nội các từ chức. Thủ tục trách nhiệm tập thể của Nội các dần dần được hình thành. Kể từ thời gian này, Nội các tượng trưng cho hoạt động tập thể và liên đới chịu trách nhiệm về chính trị và cả hành chính. Nếu Hạ nghị viện bất tín nhiệm một nhân viên của nội các hay chính thức điều khiển việc nước, có nghĩa là Hạ nghị viện bất tín nhiệm toàn bộ Nội các.

Khái niệm trách nhiệm chung được coi như là một bảo đảm chống lại sự lạm dụng quyền lực của nhà Vua. Nếu như các vị Bộ trưởng xung đột với nhau, nhà Vua sẽ tìm các cố vấn khác. Trách nhiệm chung là biện pháp để duy trì sự duy nhất và sức mạnh của đảng phái - chẳng qua là những phe nhóm được hình thành trong quá trình sinh hoạt của Nghị viện. Lãnh đạo chính trị xuất phát từ Quốc hội và nhất là từ Hạ nghị viện, những chức vụ chính trị do đảng chính trị chiếm đa số tại Hạ nghị viện đề cử.

Các vị lãnh đạo này không chỉ chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện về chính 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sách chính trị mà họ vạch ra mà cả về công việc hành chính hàng ngày trong nước. Đảng chiếm đa số tại Hạ nghị viện có quyền ấn định chính sách và lập trường của nhà Vua. Vì vậy, các vị Bộ trưởng như là một Uỷ ban của Hạ viện. Các vị Bộ trưởng này phải có trách nhiệm về những văn kiện do nhà Vua ký, vì họ phải phó thự văn kiện đó.

Chế định "phó thự" sinh ra từ đây. Chế định này quy định sự chịu trách nhiệm của các bộ trưởng cho đến Thủ tướng Chính phủ, khi họ trình các văn kiện cho nhà Vua ký, hay còn được gọi là chế định chữ ký kèm theo trong văn bản và phải chịu trách nhiệm thi hành về văn bản đó. Nhà Vua ký theo thỉnh cầu của Chính phủ, nên không chịu trách nhiệm. Vì những lẽ đó nên nhà Vua chỉ bổ nhiệm những vị Thủ tướng là thủ lĩnh của đảng cầm quyền.

Hay nói một cách khác nhà Vua hay Nữ hoàng không thể bổ nhiệm một người nào đó khác hơn nếu như, người đó không là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số trong Hạ nghị viện. Những tiến triển kể trên đã dẫn đến thủ tục trách nhiệm của Nội các - Chính phủ hình thành. Nội các phải được Hạ nghị viện tín nhiệm, hay phải từ chức, trừ trường hợp giải tán Hạ nghị viện và thiết lập các cuộc tuyển cử mới. Trong khoa học pháp lý và chính trị học, Hành chính và Hành pháp là không phân biệt.

Hành chính và Hành pháp đều là cai trị, với bộ máy chuyên nghiệp, được khái quát thành một bộ máy ăn bám, đứng trên nhân dân. Vì vậy, tất cả các cuộc cách mạng xã hội, bộ máy này đều bị lên án, nhất là của chế độ phong kiến – độc tài và chuyên chế. Để lật đổ chế độ nhà nước hiện hành, không còn một cách nào khác hơn là phải loại trừ chúng và cùng với việc đó là tăng cường quyền hạn cho những chế định có sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Đó là Nghị viện – Quốc hội.

Trong các chính thể, Nghị viện bao giờ cũng được dành nhiều ưu ái nhất. Nhất là trong trường hợp cách 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạng xã hội vừa giành được thành công, chế độ chính trị mới đang được hình thành. Vì vậy, về nguyên tắc trong mọi chế độ dân chủ hiện nay, Nghị viện bao giờ cũng được đề cao đến mức độ điển hình như của Nghị viện Anh quốc. “Nghị viện được quyền làm tất cả trừ cái việc biến đàn ông thành đàn bà”- là thành ngữ của người Anh thể hiện tính tối cao của nghị viện.

Đây cũng là nguyên nhân chính cho việc Anh quốc cho đến bây giờ vẫn không có Hiến pháp thành văn. Hôm nay Quốc hội có thể thông qua một bản Hiến văn này, ngày mai Quốc hội có thể thông qua bản Hiến văn khác. Cái đó hoàn toàn thuộc về quyền của Nghị viện, không ai có quyền can thiệp. Nhưng điều đáng cần phải được lưu ý ở đây là, cho dù bị lật đổ trong mọi cuộc cách mạng xã hội, giai cấp cầm quyền mới lên vẫn phải tổ chức ra một Chính phủ - Hành pháp, về nguyên tắc phải hoàn bị hơn, thậm chí trong nhiều trường hợp còn phải dùng cả những cơ cấu của Chính phủ - Hành pháp cũ, nhất là những bộ phận bên dưới cấu thành của nó và cả các thành phần công chức cũ (các bộ phận hành chính).

Nhưng dần dần, chẳng được bao lâu, Chính phủ - Hành pháp lại vẫn trở thành trung tâm của bộ máy nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Địa Vị Pháp Lý Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 1992: Phát Triển Và Hoàn Thiện" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và vị trí của chính phủ trong khuôn khổ pháp lý của Hiến pháp 1992. Tác phẩm này không chỉ phân tích các quy định hiện hành mà còn đề xuất những hướng đi mới nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp lý, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về cơ cấu và chức năng của chính phủ, cũng như những thách thức mà nó đang đối mặt trong bối cảnh hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ chế định quyền và nghĩa vụ của công dân trong hiến pháp 1946 của việt nam và những gợi ý với việc sửa đổi bổ sung chế định này trong hiến pháp 1992, nơi cung cấp cái nhìn về quyền và nghĩa vụ của công dân trong bối cảnh pháp lý. Ngoài ra, tài liệu Địa vị pháp lý của chính phủ theo hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 xu hướng phát triển và hoàn thiện cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển và hoàn thiện của chính phủ trong khung pháp lý hiện hành. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về chủ đề này.