MỞ ĐẦU Phá Tam Giang, đầm Thủy Tú và đầm Cầu Hai hợp thành hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đây là vùng đất ngập nước tiêu biểu cho các vùng đất ngập nước ven biển nước lợ, nhiệt đới, gió mùa, có diện tích lớn nhất Đông Nam Á và thuộc cỡ lớn trên thế giới. Với chiều dài 68km chạy từ cửa sông Ô Lâu ở phía bắc đến chân núi Vĩnh Phong, hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có diện tích mặt nước là 21.600 ha, chiếm 48,2% diện tích mặt nước các đầm phá ven bờ nước ta. Đây là loại hình thủy vực rất độc đáo, được coi như là một vùng biển - một lagoon ven biển nhiệt đới. Phá Tam Giang rộng 52km2, dài 24km, kéo từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương, rộng trung bình 2,5km, sâu chừng 1,6m, dốc dần về phía cửa sông Hương.
Đầm Sam và đầm Thủy Tú dài khoảng 33km, chạy từ cửa sông Hương đến thủy vực Cầu Hai, rộng trung bình 1km, như một lạch triền dốc về phía nam, sâu từ 1,5m đến 2m, diện tích mặt nước chiếm 60km2. Đầm Cầu Hai rộng lớn với diện tích 104km2, dài chừng 13km, đáy hơi gồ ghề nhưng có dáng của một lòng chảo hình bán nguyệt, kéo từ cửa sông Truồi đến chân núi Vĩnh Phong, sâu từ 1m đến 1,5m về phía đá Bạc có nơi sâu đến 3m. Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có giá trị cao về tài nguyên, đặc biệt là đa dạng sinh học, được ví như một bảo tàng sinh học, có chức năng quan trọng về sinh thái, môi trường, có vai trò to lớn về cân bằng tự nhiên ven bờ và phát triển kinh tế - xã hội. Thành phần nguồn gen của Tam Giang - Cầu Hai phong phú; trên các đầm lầy, cỏ và thảm cỏ biển rất đặc thù và đây còn là nơi tập trung hơn 70 loài chim nước, trên 2 vạn cá thể vào mùa đông, trong đó có hơn 30 loài di cư, 21 loại được ghi vào danh mục bảo vệ nghiêm ngặt của cộng đồng Châu Âu, 1 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam.
Cá ở phá Tam Giang được coi là loài đặc hữu, có giá trị thương phẩm cao. Vùng đất ngập nước này đang ngày một phát triển về kinh tế - xã hội và sự gia tăng dân số cho nên kéo theo nguy cơ suy thoái môi trường, phá vỡ cân bằng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh thái và cạn kiệt tài nguyên sinh vật, ảnh hưởng đến lợi ích sử dụng lâu dài. Để phát triển bền vững, việc bảo vệ và sử dụng khôn khéo tài nguyên thiên nhiên vùng đất ngập nước này là vấn đề cấp bách, cần được ưu tiên. Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu, đề xuất thành lập khu bảo tồn thiên nhiên khu vực hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai” là cần thiết.
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: phân tích giá trị kinh tế và thực trạng quản lý, bảo tồn đầm phá Tam Giang - Cầu Hai; sử dụng mô hình SWOT để đề xuất thành lập khu bảo tồn thiên nhiên khu vực hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. - Nội dung nghiên cứu của đề tài: + Đánh giá giá trị kinh tế và hiện trạng môi trường sinh thái của đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. + Đánh giá thực trạng quản lý, bảo tồn đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. + Đề xuất thành lập khu bảo tồn thiên nhiên hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Khái niệm về đất ngập nƣớc Trên thế giới có khoảng trên 50 định nghĩa khác nhau về đất ngập nước (ĐNN), tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, sử dụng hay quản lý. Nhưng nhìn chung, để được coi là ĐNN phải có đủ 3 yếu tố: - Là đất chuyển tiếp phù hợp với hầu hết các loại thực vật sống dưới nước; - Tầng nền đất không khô hoàn toàn; và - Địa tầng đất không bão hòa hoặc không ngập rõ ràng vào thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng. Định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của Cowardin và nnk (1979): “ĐNN là vùng đất tại đó sự dư thừa của nước là yếu tố chính xác định bản chất của việc hình thành thổ nhưỡng và các loại hình động vật và quần thể cây cối sống trên mặt đất.
Nó tạo sự bắc cầu kết nối giữa các môi trường, là vùng chuyển tiếp giữa các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước”. Tại Việt Nam, định nghĩa được ghi theo Công ước Ramsar về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế (1971) đã được áp dụng phổ biến cho các hoạt động liên quan đến ĐNN. Theo đó, “ĐNN là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc những vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển, kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp”. Theo quy ước trên có những loại hình ĐNN như sau: - Các vịnh nước nông có mức nước từ 6m trở lại khi triều thấp; - Các vùng cửa sông châu thổ; - Những đảo nhỏ xa bờ; - Những bờ biển có đá, vách đá ven biển; 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Những bãi biển dù là cát hay sỏi; - Những bãi gian triều dù là cát hay bùn; - Những vùng đầm lầy rừng ngập mặn; - Những đầm phá ven biển dù là nước lợ hay mặn; - Những ruộng muối; - Những ao nuôi tôm, cá; - Các sông suối; - Đầm lầy ven sông, hồ do sông đổi dòng; - Hồ nước ngọt; - Ao nước ngọt dưới 8ha, đầm lầy nước ngọt; - Ao nước mặn, những hệ thống thoát nước nội địa; - Đập chứa nước.
Theo định nghĩa nêu tại Thông tư 18/2004/TT-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN thì “ĐNN là vùng ngập thường xuyên hoặc tạm thời, nước chảy hoặc nước tù, nước ngọt, nước phèn, nước mặn hoặc nước lợ. ĐNN được phân thành ĐNN ven biển, ĐNN nội địa”. Tổng quan khu bảo tồn thiên nhiên [2], [8] 1. Khu bảo tồn thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội.
Đa dạng sinh học ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. Các khu bảo tồn thiên nhiên đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn đa dạng sinh học và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng. Định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của khu bảo tồn thiên nhiên: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994). Trong vài thập kỷ qua, các khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới đang có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích.
Hiện nay, trên thế giới có hơn 100.000 khu bảo tồn thiên nhiên (Tạp chí Khu bảo tồn thiên nhiên, Tập 14, số 3, năm 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới. Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà khu bảo tồn thiên nhiên có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu bảo tồn thiên nhiên là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”.
Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công Ước có các mục (a), (b) và (c) quy định rơ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các khu bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững. Theo Luật Đa dạng sinh học 2008 của Việt Nam, khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm các loại hình: - Vườn quốc gia; - Khu dự trữ thiên nhiên; - Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; - Khu bảo vệ cảnh quan; Tuy nhiên, theo IUCN (1994), hệ thống phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên gồm có: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/khu bảo vệ hoang dã: chủ yếu để nghiên cứu khoa học hay bảo vệ vùng hoang dã; - Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt: chủ yếu cho nghiên cứu khoa học; - Vùng hoang dã: chủ yếu để bảo vệ sự nguyên vẹn của vùng chưa có sự tác động của con người; Năm 1997, trên toàn thế giới có khoảng 30.000 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm hơn 132 triệu ha, 8,84% diện tích đất liền. Đến năm 2004, trên thế giới có hơn 100.000 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới. Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh.
Ở Việt Nam, vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên được thành lập vào năm 1962. Đến năm 1998, đã có danh mục 105 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm diện tích 2.466 ha, trong đó có 10 vườn quốc gia, 61 khu dự trữ thiên nhiên, bảo vệ các hệ sinh thái và các loài và 34 khu di tích văn hoá và lịch sử. Đến năm 2008, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển.