phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng, gồm: Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Chƣơng 3. Đề xuất hƣớng bố trí đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát tình hình vùng đồng bào dân tộc thiếu số thiếu đất sản xuất Trên địa bàn cả nƣớc có 54 dân tộc sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với dân số khoảng 13,6 triệu ngƣời, chiếm 14,70% dân số cả nƣớc. Các dân tộc thiểu số cƣ trú xen kẽ và phân bố chủ yếu ở địa bàn nông thôn thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Khu vực đồng bào DTTS cƣ trú là vùng đặc thù có vị trí chiến lƣợc, quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trƣờng. Thời gian qua đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách, chƣơng trình, dự án để giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2002 đến nay nhƣ: Quyết định 134, Quyết định 33, Quyết định 1592,… Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, các tỉnh trên địa bàn cả nƣớc cũng đang gặp phải những khó khăn, thách thức trong giải quyết các chính sách cho đồng bào, đặc biệt là chính sách về giải quyết đất sản xuất cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất, do đặc điểm địa hình của các vùng chủ yếu có độ dốc lớn, bị chia cắt, thƣờng xuyên chịu tác động của thiên tai, sạt lở đất, điều kiện tƣới tiêu không thuận lợi.
đất sản xuất chủ yếu là đất dốc, quy mô nhỏ lẻ, phân tán gây trở ngại lớn đến sản xuất nông - lâm nghiệp, ảnh hƣởng đến đời sống của đồng bào DTTS. Thực trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào thiểu số còn khá phổ biến ở nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc, đặc biệt là tại các tỉnh vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Cũng do thiếu đất sản xuất nên dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp, bấp bênh, đặc biệt là việc lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa ngƣời dân với các tổ chức đang quản lý đất nhƣ các nông - lâm trƣờng. Việc giải quyết nhu cầu đất sản xuất cho các hộ đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất là cần thiết và cấp bách; nếu giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần ổn định đời sống kinh tế, chính trị của đồng bào DTTS trên địa bàn cả nƣớc.
[7] Huyện Điện Biên là địa bàn lựa chọn để nghiên cứu đề tài có 25 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 465 thôn, bản (8 bản ĐBKK, có 12 xã vùng lòng chảo, 13 xã vùng ngoài là vùng sâu, vùng xa); có 20/25 xã đƣợc hƣởng Chƣơng trình 135 của Chính phủ. - Xã thuộc khu vực I: 09 xã (Thanh Luông, Thanh Hƣng, Thanh Chăn, Thanh Yên, Noong Luống, Pom Lót, Noọng Hẹt, Thanh An, Thanh Xƣơng). - Xã thuộc khu vực II: 02 xã (Thanh Nƣa, Sam Mứn). - Xã thuộc khu vực III: 14 xã (Mƣờng Pồn, Hua Thanh, Pa Thơm, Na Ƣ, Nà Nhạn, Nà Tấu, Mƣờng Phăng, Pá Khoang, Núa Ngam, Hẹ Muông, Na Tông, Mƣờng Nhà, Phu Luông, Mƣờng Lói).
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có 12 xã biên giới: Mƣờng Pồn, Hua Thanh, Thanh Nƣa, Thanh Luông, Thanh Hƣng, Thanh Chăn, Pa Thơm, Na Ƣ, Na Tông, Mƣờng Nhà, Phu Luông, Mƣờng Lói. Huyện có tổng số hộ dân tộc thiểu số 18. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chiếm 12,68%, cận nghèo 10,66%. Kinh tế vùng đồng bào DTTS trên địa bàn huyện phát triển chậm, thu nhập của ngƣời dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhƣng kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, cây trồng chủ yếu là cây lúa và một số cây rau màu khác.
Nhƣng công tác cải tạo giống, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn chậm và nhiều hạn chế nên năng suất thấp, hiệu quả kinh tế thu đƣợc chƣa cao. Trình độ dân trí một số vùng còn hạn chế so với mặt bằng chung của toàn huyện, giao thông đi lại khó khăn, có vùng còn thiếu điều kiện sinh hoạt và canh tác nhƣ thiếu điện, thiếu nƣớc sinh hoạt, thiếu nguồn nƣớc thủy lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nhìn chung về kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống các đồng bào DTTS cơ bản ổn định, chính sách dân tộc đƣợc các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Tuy nhiên, do nhận thức còn thấp, đa số đồng bào DTTS sinh đẻ không có kế hoạch, cùng nhiều nguyên nhân khác nên vấn đề thiếu đất sản xuất là tình hình chung đối với vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Điện Biên.
Cơ sở khoa học và pháp lý vấn đề đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất 1. Khái niệm và vai trò sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số Theo quan niệm truyền thống của ngƣời Việt Nam thì đất nông nghiệp thƣờng đƣợc hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu nhƣ: ngô, khoai, sắn và những loại cây đƣợc coi là lƣơng thực. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tƣơng đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng các cây lâu năm…. Trƣớc đây, Luật Đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42 nhƣ sau: “Đất nông nghiệp là đất đƣợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2003 đã chia đất đai thành ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chƣa sử dụng. Nhƣ vậy, khái niệm đất nông nghiệp đã mở rộng với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “đất nông 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp” trƣớc đây. Theo quy định Luật Đất đai năm 2003 có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tƣ cách là tƣ liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp.
Theo Luật Đất đai 2013 nhóm đất nông nghiệp bao gồm: [8] “Điều 10. Phân loại đất Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai đƣợc phân loại nhƣ sau: 1. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thủy sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác đƣợc pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ƣơm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh”. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nƣớc giao đất) là việc Nhà nƣớc ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tƣợng có nhu cầu sử dụng đất.
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã đƣợc Nhà nƣớc giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó. Theo Điều 27 Luật Đất đai 2013: “Trách nhiệm của Nhà nƣớc về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số 1. Có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp.” Dân tộc thiểu số đƣợc định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ- CP về công tác dân tộc nhƣ sau: [4] “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo khoản 1 Điều 1 Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nƣớc sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn. [1] “Hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, định cƣ thƣờng trú tại địa phƣơng; là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chƣa có hoặc chƣa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nƣớc sinh hoạt”.
Địa bàn cƣ trú của đồng bảo dân tộc thiểu số phân bố tập trung nhiều ở vùng sâu, vùng xa; nơi có vị trí chiến lƣợc đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trƣờng sinh thái, có địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên. Theo báo cáo số 252/BC-UBTVQH ngày 16/10/2012 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội: cả nƣớc có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc đa số (dân tộc Kinh) chiếm 85,73%, các dân tộc thiểu số chiếm 14,27% (12. Cả nƣớc có 7 tỉnh có tỷ lệ dân tộc thiểu số trên 80%: Cao Bằng (94,25%), Hà Giang (86,75%), Bắc Kạn (86,63%), Lạng Sơn (83,01%), Sơn La (82,39%), Lai Châu (82,02%) và Điện Biên (81,58%).