Chương I. Một số van dé lý luận về tri thức truyền thống, bảo hộ tri thức truyền thống trong lĩnh vực y được học cổ truyền. Chương II. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ tri thức 13 truyền thống đối với bài thuốc đông y tại Việt Nam.
Chương III. Thực tiễn đối với các bài thuốc cô truyền tại một số tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên. Chương IV. Một số giải pháp và kiến nghị và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ tri thức truyền thống trong lĩnh vực y được học cô truyền tại Việt Nam.
NỘI DUNG CHUONG I. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRI THỨC TRUYEN THONG, BAO HO TRI THUC TRUYEN THONG TRONG LĨNH VUC Y DƯỢC HOC CO TRUYEN. Y dược học cỗ truyền.1 Khái niệm y dược học cỗ truyền. Y dược học cô truyền Việt Nam hay còn gọi là thuốc đông y, hay thảo dược học Việt Nam, thuốc Nam.
Y dược cô truyền là ngành Y học thuốc Đông Y, có nguồn gốc từ chính Việt Nam xưa. Y duoc học cổ truyền là nền y học chữa bệnh dựa trên nên tảng chính là Âm Dương- Ngũ Hành kết hợp với thuốc nam là những cây thuốc trồng từ tự nhiên. Việc chữa bệnh trong ngành Y học cổ truyền dựa trên cơ sở điều chỉnh cân băng Âm Dương- Ngũ Hành cân đối, từ đó làm cho cơ thể khỏe mạnh. Y học cô truyền Việt Nam chịu sự ảnh hưởng lớn của Y học cô truyền Trung Quốc hay còn được gọi là y được học phương Bắc.
Mặc dù khác nhiều so với y học cô truyền Trung Quốc nhưng nhìn chung về lý thuyết Đông Y dược trên các hiệu ứng quan sát được từ đặc điểm thé trạng con người đó là tiêu hóa, miễn dịch và trạng thái tinh than. Bên cạnh đó, YHCT Việt Nam với YHCT Trung Quốc cũng có những đặc điểm chung đó là phụ thuộc vào các thành phần thảo mộc bản địa được sử dụng ở trạng thái tươi hoặc đơn giản là sấy khô. Y học Việt Nam thường không yêu cầu thuốc sắc phức tạp giống như thường thấy đối với YHCT Trung Quốc. Nhắc đến YHCT Việt Nam ta nhất định phải nhắc tới các vị thuốc đông y cơ bản, những loại thảo mộc này được dùng phô biến trong cuộc sống như nấu ăn.
Đó chính là ngải cứu, rau răm, kinh giới. các sản phẩm từ động vật như tằm, nhung hươu.Những loại thuốc này ngoài được chế biến vào thức ăn nó còn được sử dụng làm thuốc mỡ, ngâm rượu, thuốc đắp. Đôi khi nó còn là nguyên liệu cho liệu pháp xông hơi chữa bệnh. Đây 14 là những nguyên liệu chính dé chữa bệnh và những nguyên liệu này gọi ngắn gon là thuốc đông y.
Nhắc đến ngành YHCT nhất định phải nhắc tới những thầy thuốc Đông y giỏi nhất Việt Nam như: Hải Thuong Lan Ông, Tuệ Tinh. Y dược học cé truyền là một hệ thống tri thức về y học đã được biên soạn, hệ thống hóa thành văn, còn y học bản địa chỉ gồm những bí quyết y học, không được hệ thống hóa thành văn.” Bên cạnh đó, vai trò và tam quan trọng của y học cô truyền của WHO được xem xét ở quy mô toàn cau, từ năm 1976, chương trình đã chỉ rõ: “Y duoc học cổ truyền là bản đúc kết kiến thức, kĩ năng và thực tiên dựa trên các học thuyết, niềm tin và kinh nghiệm thổ dân từ những nên văn hóa khác nhau, cho dit có thể giải thích được hay không, được sử dụng để giữ gìn sức khỏe cũng như đề phòng, chan đoán, chăm sóc hoặc diéu trị căn bệnh về thé chat và tỉnh than”’* 1. Lịch sử hình thành của y dược cỗ truyền. Ngành YHCT Việt Nam được hình thành từ rất lâu đời, từ hàng ngàn năm trước.
YHCT Việt Nam phát triển dưới bóng tối cai trị của phương Bắc, đó chính là thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc ở nước ta. Tại thời điểm này gần như không thể tách biệt được YHCT Việt Nam và YHCT Trung Quốc. Thuốc Nam và thuốc Bắc phát triển rất đan xen, đây chính là lý do khiến cho y học cô truyền Việt Nam chịu nhiều nét tương đồng và chịu sự tác động bởi YHCT Trung Quốc. Các văn bản và dụng cụ y tế được tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam đã chứng minh là có trước cuộc chinh phạt của Trung Quốc, cho thấy người Việt Nam đã có hệ thống y học phát triển.
Ngoài ra, trong số các văn bản y học Trung Quốc từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, các tài liệu tham khảo đã được đưa ra cho các đơn đơn thuốc được khai quật thấy rằng thuốc Nam là một môn học đã được thiết lập. Y học cô truyền Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục phát triển chặt chẽ trong những thiên niên ky tiếp theo. YHCT Việt Nam trong suốt thời kỳ chiếm đóng của Trung Quốc đã chịu nhiều ảnh hưởng, lý thuyết đông y của Việt Nam đã chịu nhiều ảnh hưởng bởi thuyết đông y Trung Quốc và ngược lại, y học cô truyền Việt Nam đã đưa vào YHCT Trung Quốc nhiều lý thuyết và bổ sung mới cho đông y phương Bắc. > Trần Văn Hải (2012), Khai thác thương mại đối với tri thức và truyền thống, tiếp cận từ quyền Sở hữu tri tuệ, Tạp chí Hoạt động khoa học, Bộ khoa học công nghệ, sô tháng 03, trang 54-59.int/medicnies/areas/traditional/definitions/en/index.html, The World Health Organization (WHO) defines traditional medicine as “the health practices, approaches”.
15 Ngành YHCT Việt Nam tiếp tục được mở rộng và phát trién từ thé kỷ X, đó là thời kỳ giành được độc lập và khẳng định chủ quyền dân tộc. Sau các cuộc chinh chiến bảo vệ hòa bình độc lập dân tộc, mở rộng lãnh tho , nganh YHCT phat trién ngay cang nhanh va khang định vị thé, vai trò của minh. Đến thế ky XVII, các thầy thuốc YHCT Việt Nam va YHCT Trung Quốc đã quyết định gọi nền y học của Việt Nam và Trung Quốc là Đông y đê phân biệt với Tây y ở nửa câu kia.3 Vai trò của y được học cỗ truyền trong đời sống. Theo đánh giá của các chuyên gia y tế, y học hiện đại với nhiều máy móc, trang thiết bị mới có thể chân đoán đúng bệnh và điều trị cấp tốc những trường hợp cấp cứu.
Trong khi đó, y học cổ truyền có thé giúp phục hồi chức năng cho những trường hợp mang di chứng như tai biến mạch máu não, viêm đau khớp, tiểu đường, hoặc những bệnh nhân mặc các bệnh mãn tính. Chính vì vậy mà trong thời đại mà y học phát triển vượt bậc như hiện nay thì y học cô truyền vẫn mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh. Y học cổ truyền là phương pháp điều trị bệnh theo cách thức được lưu truyền từ xa xưa, có hai phương pháp là dùng thuốc và không dùng thuốc.Dùng thuốc là dùng các loại thảo được có trong các loại cây cỏ từ thiên nhiên, những dược pham Đông y có lợi thế là ít gây phản ứng phụ, bệnh nhân có thê điều trị lâu dài mà hoàn toàn yên tâm, còn không dùng thuốc là xoa bóp, bam huyệt, châm cứu, tập dưỡng sinh. Lợi ích rõ nhất có thê thấy được từ việc điều trị bệnh bằng phương pháp y học cô truyền là : những bệnh nhân đã qua điều trị bằng y học hiện đại, sau đó có thé điều trị băng y học cổ truyền sẽ cho hiệu quả rất tốt.
Đơn cử như một bệnh nhân sau phẫu thuật có thé mac chứng bí tiêu, nếu dùng thuốc tân được không mang lại hiệu quả, thì chi cần vài lần châm cứu là có thé trở lại bình thường. Hay trường hợp bệnh nhân bị tai biến mach máu não, mắc di chứng liệt người, chữa trị bằng phương pháp y học cô truyền như châm cứu , xoa bóp. sẽ giúp người bệnh có thé dan phục hồi chức năng”. Ngoài ra, những bệnh nhân bị viêm khớp, mất ngủ, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, rối loạn tiêu hóa, viêm dạ dày, viêm đường hô hấp.
điều trị theo phương pháp y học cô truyền sẽ có tác dụng toàn diện và hầu như không gây phản ứng phụ. Hiện nay, ở tỉnh Bạc Liêu, các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, một số trạm y tế xã, phường, thị trấn đều có tổ chức phòng khám và điều trị bằng phương pháp y học cổ truyền, ngoài ra còn có chùa tinh Độ và các chi nhánh có mạng lưới khám va điều trị bệnh cho nhân dân bằng y học cô truyền một cách bài bản, và chi phí điều trị hoàn toàn ° https://syt. vn/vi/-/vai-tro-cua-y-hoc-co-truyen-trong-dieu-tri-benh-640 16 miễn phí cho bà con nhân dân. Không ít bệnh nhân sau một thời gian dài điều trị bằng y học hiện đại không có kết quả, đã chuyển sang áp dụng phương pháp y học cổ truyền dé điều trị và cho kết quả khả quan.
Tri thức truyền thống. Khái niệm tri thức truyền thống. Khái niệm tri thức truyền thống (Traditional knowledge), trì thức bản địa (Indigenous knowledge) hay tri thức địa phương (Local knowledge) đều đề cập đến hệ thống tri thức gan liền với truyền thống văn hóa của cộng đồng, khu vực, bản địa hoặc địa phương”. Tổ chức Sở hữu trí tuệ Liên hợp quốc (WIPO) đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra khái niệm về tri thức truyền thống vào năm 1978.
Ban đầu khái niệm này chỉ được định nghĩa bó hẹp là “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore). Nhưng sau đó vào năm 1982, WIPO đã phối hợp với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) soạn thảo và công bố bài viết “Các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chống lại việc khai Di Lá y be ~ x x % thác trai phép và những hành vi xâm phạm khác , trong đó có định nghĩa vê “các hình thức thé hiện văn hóa gian”, vì vậy thuật ngữ “tri thức truyền thống” không chỉ giới hạn ở “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” mà còn bao gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân gian,. Trong Báo cáo về cuộc khảo sát về SHTT và tri thức truyền thống năm 1998-1999, WIPO đã đưa ra khái niệm về “tri thức truyền thống” như sau: “Đó là các sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên truyền thống, sự biếu diễn, các sang ché, cdc phat minh khoa hoc, các kiéu dang, cac nhan hiéu, tén va biểu tượng, các thông tin bi mật, và tat cả các sáng kiến hoặc sản phẩm sang tạo khác là thành quả của hoạt động trí tuệ dựa trên truyền thông trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật.