Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhân và là nền tảng bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia. Theo các báo cáo của ngành y tế được trích dẫn trong công trình, mặc dù tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam tương đối cao so với các quốc gia có cùng mức sống, người dân lại phải đối mặt với tình trạng bệnh tật trung bình kéo dài khoảng 10 năm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống. Nhận thức được tầm quan trọng của an sinh y tế, Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 – 2025) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra chỉ tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 95% dân số và tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi. Để hiện thực hóa định hướng "Lấy người bệnh làm trung tâm", hệ thống pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và điều chỉnh chế định quyền khám bệnh, chữa bệnh (KCB) theo BHYT.

Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa và y tế lớn, nơi tập trung mật độ cao các cơ sở KCB tuyến cuối với lưu lượng người bệnh tiếp nhận hàng năm đặc biệt lớn. Việc nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về quyền KCB BHYT tại địa bàn này mang tính cấp thiết cả về mặt khoa học pháp lý lẫn quản lý thực tiễn.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và pháp lý của quyền KCB theo BHYT; đánh giá thực trạng thực hiện quyền này trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 – 2023; từ đó xác định hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện quyền KCB theo BHYT trên địa bàn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. a) Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý của quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế.
    2. b) Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.
    3. c) Nghiên cứu các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quyền được pháp luật quy định riêng cho người tham gia khám bệnh, chữa bệnh theo BHYT.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội.
    • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023.
  • Giả thuyết khoa học: Quyền KCB BHYT là quyền của người bệnh đã được pháp luật ghi nhận; tuy nhiên, quá trình thực thi trên thực tế còn tồn tại những bất cập về hành lang pháp lý và phương diện tổ chức thực hiện, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ để khắc phục.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận quyền KCB theo BHYT từ góc độ luật học chuyên ngành và khoa học quản lý hành chính công. Tác giả vận dụng các định nghĩa chuẩn tắc từ văn bản quy phạm pháp luật:

  • Bảo hiểm y tế theo khoản 1 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi, bổ sung năm 2014): là hình thức bảo hiểm bắt buộc do Nhà nước tổ chức thực hiện để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận.
  • Khám bệnh và Chữa bệnh theo khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.
  • Quyền KCB theo BHYT: được xác định là quyền của cá nhân thông qua cơ chế BHYT để tiếp cận các dịch vụ y tế, được cơ sở chuyên môn đánh giá nguy cơ, chẩn đoán và điều trị bệnh tật.

Hệ thống văn bản pháp lý nền tảng được trích dẫn gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 34 về quyền an sinh xã hội, Điều 38 về quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe).
  • Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  • Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.
  • Nghị định số 146/2018/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT.
  • Thông tư số 40/2015/TT-BYT về đăng ký KCB ban đầu và chuyển tuyến KCB BHYT; Thông tư số 14/2014/TT-BYT quy định chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật.

Tác giả nghiên cứu lịch sử phát triển BHYT quốc tế (mô hình Bismark tại Đức năm 1883, Luật bảo hiểm ốm đau tại Phần Lan năm 1963, hệ thống BHYT Nhật Bản từ 1927 đến 1961) và lịch sử BHYT Việt Nam (từ giai đoạn thí điểm tự phát những năm 1980 qua Nghị định số 299/HĐBT năm 1992, Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg đến Luật BHYT 2008).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Khái quát tiến trình hình thành chính sách BHYT quốc tế và Việt Nam.
  • Phương pháp liệt kê: Hệ thống hóa các quyền chung của người bệnh và quyền riêng của người tham gia BHYT.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định giữa Luật BHYT 2008 (sửa đổi 2014) và Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023; so sánh quy định qua các thời kỳ.
  • Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa: Phân tích dữ liệu thực tế tại thành phố Hà Nội để rút ra nhận định lý luận và giải pháp.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ số liệu công bố chính thức của Sở Y tế thành phố Hà Nội, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội và Bảo hiểm xã hội Việt Nam giai đoạn 2019 – 2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế

Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết và quy định thực định về quyền KCB BHYT. Về đặc điểm, quyền này là một bộ phận cốt lõi của quyền được chăm sóc sức khỏe, có mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với các quyền cơ bản khác (quyền sống, quyền an sinh xã hội), mang tính phổ quát nhưng vẫn có giới hạn kỹ thuật theo nhóm đối tượng luật định. Về vai trò, quyền KCB BHYT thể hiện sự công bằng xã hội, cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời giảm thiểu rủi ro tài chính cho người bệnh.

Về mặt pháp lý, người tham gia BHYT được hưởng:

  1. Các nhóm quyền chung của người bệnh (theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023): Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe và bí mật riêng tư (Điều 10); Quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí KCB (Điều 12); Quyền được từ chối KCB và rời cơ sở y tế có cam kết (Điều 13); Quyền KCB của các nhóm đối tượng đặc biệt như người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên, người không có thân nhân (Điều 15).
  2. Các nhóm quyền riêng của người tham gia BHYT (theo Luật BHYT): Quyền đăng ký KCB ban đầu (Điều 26); Quyền lựa chọn cơ sở KCB và phương pháp điều trị (Điều 11 Luật KCB 2023, khoản 24 Điều 1 Luật BHYT sửa đổi 2014); Quyền được chuyển tuyến điều trị (Điều 27 Luật BHYT 2008, Thông tư 40/2015/TT-BYT, Thông tư 14/2014/TT-BYT); Quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo và được bồi thường (Điều 36 Luật BHYT 2008, Điều 14 và Điều 102 Luật KCB 2023); Quyền được thanh toán chi phí KCB theo chế độ (khoản 4 Điều 36 Luật BHYT 2008).

Chương này cũng chỉ ra 4 yếu tố tác động trực tiếp đến việc thực hiện quyền: quy định pháp luật; cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn lực tài chính; nhận thức của người dân; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ y bác sĩ.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng thực hiện 5 quyền riêng của người KCB BHYT tại Hà Nội trong giai đoạn 2019 – 2023 thông qua các dữ liệu thực chứng:

Tiêu chí thống kê thực tế Số liệu tại thành phố Hà Nội Ghi chú / Xu hướng
Tỷ lệ bao phủ BHYT năm 2023 93,5% dân số (gần 7,9 triệu người) Tăng 1,9% so với năm 2022; vượt kế hoạch UBND TP giao
Tỷ lệ dân số tham gia BHYT cả nước năm 2023 93,22% dân số Tăng trưởng từ mức 58,3% năm 2009
Số lượt KCB BHYT năm 2023 12.067 lượt (trong đó: ngoại trú > 10,53 triệu; nội trú 2,05 triệu) Tổng số lượt tăng 16,3% so với năm 2022
Tỷ trọng KCB bằng BHYT Chiếm 57,70% tổng số lượt KCB Thể hiện mức độ phụ thuộc lớn vào quỹ BHYT
Tổng chi KCB BHYT năm 2023 22.536 tỷ đồng Vượt mức dự toán Chính phủ giao (20.101 tỷ đồng)
Chi phí KCB bệnh nhân ngoại tỉnh năm 2023 Gần 11.260 tỷ đồng Chiếm 50,3% tổng chi KCB BHYT trên địa bàn Hà Nội
Dự toán và chi KCB BHYT năm 2022 Dự toán: 18.912,579 tỷ đồng; Chi thực tế: 19.169,5 tỷ đồng Bình quân nội trú: 8,1 triệu đồng/đợt; ngoại trú: 596 nghìn đồng/đợt
Số bệnh nhân được chi trả > 1 tỷ đồng (năm 2023) 38 bệnh nhân Trong đó có 3 trường hợp chi trả > 3 tỷ đồng
Số lượt chuyển tuyến năm 2023 187.788 lượt Tăng 3,2% so với năm 2022
Mạng lưới y tế cơ sở tại xã/phường 579 trạm y tế 100% trạm có bác sĩ công tác (86,3% có bác sĩ biên chế tại trạm)

Phân tích sâu theo từng quyền cụ thể:

  • Quyền đăng ký KCB: Quy định cho phép đăng ký không phân biệt địa giới hành chính tuyến xã/huyện giúp nâng cao khả năng tiếp cận. Tuy nhiên, tình trạng quá tải nghiêm trọng diễn ra tại các bệnh viện lớn (Bạch Mai, Tim Hà Nội, E, Hữu nghị Việt Đức), thủ tục lấy số thứ tự, xếp sổ kéo dài khiến nhiều người bệnh có thẻ BHYT phải chuyển sang khám dịch vụ để tiết kiệm thời gian.
  • Quyền lựa chọn: BHXH Hà Nội ban hành danh mục phân bổ đầu quý I hàng năm. Dù vậy, việc lựa chọn cơ sở tuyến trên đối với các bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo còn bị trói buộc bởi quy định chuyển tuyến; các cơ sở tuyến huyện ngoài công lập (bệnh xá quân đội, công an, cơ quan) chưa được tích hợp bình đẳng trong cơ chế thông tuyến.
  • Quyền chuyển tuyến: Năm 2023 ghi nhận 187.788 lượt chuyển tuyến. Việc triển khai kỹ thuật cao thường quy đã giúp tỷ lệ chuyển tuyến từ tỉnh lên trung ương giảm từ 73-99% tùy chuyên khoa. Mô hình "Bệnh viện CHỊ - EM" thí điểm từ ngày 18/10/2023 giữa Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn với Bệnh viện đa khoa và Trung tâm Y tế huyện Ba Vì đã bước đầu giảm tải tuyến trên. Mặc dù vậy, thủ tục xin giấy chuyển tuyến còn phiền hà, vẫn xuất hiện tình trạng cơ sở tuyến dưới giữ người bệnh.
  • Quyền kiến nghị, khiếu nại, bồi thường: Người dân quan tâm đến vấn đề giá dịch vụ, thiếu vật tư/thuốc, chênh lệch mức đóng giữa học sinh-sinh viên và hộ gia đình. Về tai biến y khoa, Hà Nội chưa có thống kê chính thức; các vụ việc bồi thường thực tế (như vụ mổ nhầm chân tại Bệnh viện Việt Đức năm 2016) cho thấy việc thỏa thuận mức bồi thường rất phức tạp, các bệnh viện thiếu bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
  • Quyền thanh toán chi phí: Nhiều cơ sở thiếu thuốc/vật tư thuộc danh mục BHYT do vướng mắc đấu thầu, buộc người bệnh phải tự mua ngoài nhưng không có cơ chế hoàn tiền trực tiếp (ví dụ vụ việc ông Nguyễn Đức T. khiếu nại thanh toán thuốc Hydrocortisone 10mg trong 3 năm không có kết quả).

Khóa luận chỉ rõ sự bất cập giữa Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 (phân cấp thành 3 cấp chuyên môn kỹ thuật) và Luật BHYT hiện hành (vẫn phân theo 4 tuyến chuyên môn kỹ thuật), gây khó khăn cho việc phân loại và tính giá dịch vụ KCB.

Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện tương ứng với các hạn chế đã chỉ ra:

  1. Nhóm giải pháp đảm bảo các quyền cụ thể:
    • Quyền đăng ký: Rút ngắn quy trình hành chính, phân luồng bệnh nhân, ứng dụng công nghệ thông tin (ứng dụng VssID và căn cước công dân gắn chíp) trong khâu tiếp đón.
    • Quyền lựa chọn: Mở rộng phạm vi KCB ban đầu; cập nhật kịp thời danh mục thuốc, vật tư y tế thuộc phạm vi chi trả của BHYT (khắc phục tình trạng danh mục chậm cập nhật từ năm 2022).
    • Quyền chuyển tuyến: Minh bạch hóa tiêu chuẩn chuyển viện; đơn giản hóa thủ tục cấp giấy chuyển tuyến; mở rộng quy mô mô hình "Bệnh viện CHỊ - EM" và mạng lưới bệnh viện vệ tinh.
    • Quyền kiến nghị và bồi thường: Thiết lập quy trình tiếp nhận, giải quyết khiếu nại nhanh chóng; ban hành khung bồi thường tai biến y khoa rõ ràng; bắt buộc cơ sở y tế tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
    • Quyền thanh toán chi phí: Ban hành cơ chế chi trả trực tiếp từ cơ quan BHXH cho người bệnh khi phải tự mua thuốc, vật tư thuộc danh mục do cơ sở y tế thiếu hụt.
  2. Nhóm giải pháp khác:
    • Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Khẩn trương sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế để chuyển đổi mô hình 4 tuyến sang 3 cấp chuyên môn kỹ thuật (Cấp ban đầu, Cấp cơ bản, Cấp chuyên sâu) theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.
    • Nâng cấp cơ sở vật chất, đầu tư thiết bị y tế và ổn định chuỗi cung ứng thuốc tại 579 trạm y tế cơ sở nhằm thu hút người dân KCB tại tuyến xã/phường.
    • Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật BHYT để người dân nắm rõ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp.
    • Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ y bác sĩ tuyến y tế cơ sở.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về việc thực thi quyền KCB BHYT tại Hà Nội với các dữ kiện chính xác: Tỷ lệ bao phủ đạt 93,5% năm 2023; 100% cơ sở KCB ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký (VssID, CCCD gắn chip); tổng chi BHYT đạt 22.536 tỷ đồng (trong đó chi cho bệnh nhân ngoại tỉnh chiếm 50,3%); ghi nhận 38 trường hợp được quỹ chi trả trên 1 tỷ đồng trong năm 2023.
    • Phân tích và chỉ rõ các rào cản thực tế: 579 trạm y tế xã có bác sĩ nhưng tỷ lệ đăng ký KCB ban đầu thấp; sự đứt gãy cung ứng thuốc do đấu thầu; chậm cập nhật danh mục thuốc BHYT (lần gần nhất năm 2022 chủ yếu là thuốc điều trị COVID-19); sự chậm trễ trong xử lý yêu cầu thanh toán thuốc tự mua của bệnh nhân.
  • Giải pháp đề xuất: Đưa ra giải pháp mang tính kỹ thuật lập pháp (đồng bộ 3 cấp chuyên môn kỹ thuật giữa Luật KCB và Luật BHYT), giải pháp chính sách tài chính (cơ chế hoàn trả chi phí thuốc tự mua, bảo hiểm trách nhiệm y khoa) và giải pháp tổ chức quản lý (nhân rộng mô hình "Bệnh viện CHỊ - EM").
  • Đóng góp của khóa luận:
    • Về phương diện lý luận: Góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và pháp lý về quyền KCB BHYT trong bối cảnh các đạo luật y tế mới được ban hành.
    • Về phương diện thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và các kiến nghị giải pháp có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan BHXH và các cơ sở y tế tại Hà Nội cũng như các địa phương khác trong quá trình hoàn thiện chính sách và tổ chức thi hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn giới hạn trong không gian địa lý thành phố Hà Nội và khoảng thời gian 2019 – 2023. Dữ liệu về bồi thường tai biến y khoa trong KCB BHYT chưa có nguồn thống kê chính thức tập trung mà chủ yếu tổng hợp qua các vụ việc đơn lẻ trên phương tiện truyền thông.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động khi Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đi vào thực thi đầy đủ, đặc biệt là cơ chế thanh toán chi phí KCB BHYT tương thích với mô hình phân loại 3 cấp chuyên môn kỹ thuật trên phạm vi liên tỉnh và toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật (Luật Hành chính, Luật An sinh xã hội), Quản lý công, Quản lý nhà nước về y tế và Quản trị bệnh viện.
  • Các cán bộ nghiên cứu xây dựng chính sách, cán bộ quản lý thuộc cơ quan Bảo hiểm xã hội và Sở Y tế.

Nội dung đáng tham khảo nhất bao gồm: Khung phân tích đối chiếu quyền của người bệnh giữa Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 và Luật Bảo hiểm y tế; hệ thống số liệu tài chính - chuyên môn về chi trả và chuyển tuyến KCB BHYT tại Hà Nội; cùng các phân tích thực tế về vướng mắc đấu thầu thuốc và mô hình liên kết bệnh viện "Bệnh viện CHỊ - EM".

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân loại các quyền riêng của người khám bệnh, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế thành những nhóm quyền nào? Tác giả phân loại thành 5 nhóm quyền riêng biệt dựa trên Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn: (1) Quyền được đăng ký KCB theo BHYT; (2) Quyền được lựa chọn trong KCB theo BHYT (lựa chọn cơ sở KCB ban đầu và phương pháp điều trị); (3) Quyền được chuyển tuyến điều trị; (4) Quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo và được bồi thường; (5) Quyền được thanh toán chi phí KCB theo BHYT.

2. Tổng chi KCB BHYT tại thành phố Hà Nội năm 2023 là bao nhiêu và có đặc điểm gì đáng chú ý? Năm 2023, tổng chi KCB BHYT tại Hà Nội là 22.536 tỷ đồng, vượt mức dự toán 20.101 tỷ đồng được Thủ tướng Chính phủ giao. Điểm đặc thù là chi phí KCB đối với bệnh nhân ngoại tỉnh đạt gần 11.260 tỷ đồng, chiếm tới 50,3% tổng chi KCB BHYT trên địa bàn thành phố, do Hà Nội tập trung nhiều bệnh viện tuyến cuối.

3. Khóa luận chỉ ra thực trạng và nguyên nhân nào khiến người dân ít đăng ký KCB BHYT ban đầu tại trạm y tế tuyến xã ở Hà Nội? Mặc dù Hà Nội có 579 trạm y tế và 100% trạm đều có bác sĩ công tác (86,3% có bác sĩ biên chế), tỷ lệ người dân đăng ký KCB ban đầu tại đây rất thấp. Nguyên nhân do cơ sở vật chất còn chênh lệch, thiết bị chuyên khoa hạn chế, danh mục thuốc tại trạm nghèo nàn và bị đứt gãy do vướng mắc đấu thầu, cùng với trình độ xử lý các bệnh lý phức tạp của nhân lực tuyến xã chưa cao.

4. Mô hình "Bệnh viện CHỊ - EM" được thí điểm tại Hà Nội có nội dung và kết quả ban đầu ra sao? Mô hình được Sở Y tế Hà Nội thí điểm từ ngày 18/10/2023 giữa Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn (đơn vị thường trực hỗ trợ) với Bệnh viện đa khoa và Trung tâm Y tế huyện Ba Vì. Cốt lõi của mô hình là chỉ đạo tuyến, KCB từ xa và chuyển giao kỹ thuật toàn diện, bước đầu giúp giảm tỷ lệ chuyển tuyến của người bệnh lên tuyến trung ương và giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên.

5. Điểm xung đột pháp lý chính giữa Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và Luật Bảo hiểm y tế hiện hành được tác giả chỉ ra là gì? Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định phân hệ thống y tế thành 3 cấp chuyên môn kỹ thuật (cấp ban đầu, cấp cơ bản, cấp chuyên sâu) và bãi bỏ việc dùng tuyến chuyên môn/hạng bệnh viện để tính giá dịch vụ. Trong khi đó, Luật Bảo hiểm y tế hiện hành vẫn duy trì việc phân loại và cơ chế thanh toán theo 4 tuyến (xã, huyện, tỉnh, trung ương), đòi hỏi phải khẩn trương sửa đổi Luật BHYT để đồng bộ.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nguyễn Thị Thu Nga đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội. Dựa trên cơ sở lý luận vững chắc và số liệu thực chứng giai đoạn 2019 – 2023, tác giả đã phản ánh trung thực những kết quả tích cực về độ bao phủ BHYT cũng như những điểm nghẽn trong thủ tục, chuyển tuyến, thanh toán chi phí và chuỗi cung ứng thuốc. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, đặc biệt là yêu cầu cấp thiết sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế để tương thích với Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh.